CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH XÃ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1.1 Những vấn đề chung về ngân sách xã 1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngân sách xã Từ những năm 1967, chế độ phân cấp và quản lý ngân sách ở nước ta ra đời, và được khẳng định trong Luật Ngân sách gồm có NS trung ương và NS địa phương. NSNN được phân cấp bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính. Gắn với mỗi cấp chính quyền trong bộ máy tổ chức nhà nước là một cấp ngân sách. Mỗi cấp đều có nhiệm vụ cần đảm bảo bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ hiệu quả hơn là có sự áp đặt từ trên xuống.
Sự tồn tại của cấp xã kéo theo sự ra đời của Ngân sách xã để quản lý các hoạt động nghiệp vụ trên địa bàn xã, duy trì sự phát triển và ổn định đời sống nhân dân. Vì vậy, việc xuất hiện của ngân sách cấp xã là một sự tồn tại khách quan.1 Khái niệm Ngân sách xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là ngân sách xã) là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, nó đại diện và đảm bảo tài chính cho chính quyền xã có thể chủ động khai thác những thế mạnh sẵn có để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã. Xét về hình thức biểu hiện, ngân sách cấp xã là toàn bộ các khoản thu chi trong dự toán đã được HĐND cấp xã quyết định và được thực hiện trong một năm, nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho chính quyền nhà nước cấp xã trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình về quản lý KT- XH trên địa bàn. Xét về bản chất, ngân sách cấp xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa chính quyền nhà nước cấp xã với các chủ thể khác phát sinh trong quá trình 6 phân phối các nguồn tài chính nhằm tạo lập quỹ ngân sách cấp xã, trên cơ sở đó đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã 1.2 Đặc điểm Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hệ thống NSNN ngày càng được hoàn thiện và nền tài chính quốc gia đã và đang được nâng cao hiệu quả.
Song song với quá trình đó, ngân sách xã ngày càng chứng minh tầm quan trọng, tính hiệu quả trong hoạt động của mình góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế. Ngân sách xã là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước nên nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của NSNN; thêm vào đó là đặc điểm riêng tạo nên sự khác biệt căn bản với các cấp ngân sách khác. * Đặc điểm chung: - Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật; - Được quản lý và điều hành dự toán theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; - Hoạt động của ngân sách cấp xã luôn gắn chặt với hoạt động chính quyền nhà nước cấp xã. - Quản lý ngân sách cấp xã nhất thiết phải tuân theo một chu trình chặt chẽ và khoa học.
- Phần lớn các khoản thu, chi của ngân sách cấp xã được thực hiện theo phương thức phân phối lại và không hoàn trả một cách trực tiếp. * Đặc điểm riêng: - Ngân sách cấp xã vừa là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, vừa là một đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí. Đặc điểm này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thiết lập các chính sách, cơ chế trong quản lý ngân sách cấp xã. 7 - Ngân sách cấp xã là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp cơ sở.
Hoạt động của quỹ được hoạt động trên hai phương diện thu ngân sách và chi ngân sách. - Các chỉ tiêu thu chi ngân sách xã luôn mang tính pháp lý, được quy định bằng các văn bản quy phạm pháp luật và được pháp luật đảm bảo thực hiện.2 Vị trí, vai trò của ngân sách xã 1.1 Vị trí của ngân sách xã trong hệ thống NSNN Hệ thống NSNN là một chỉnh thể thống nhất bao gồm 4 cấp ngân sách tương ứng với 4 cấp chính quyền Nhà nước, các cấp ngân sách có mối quan hệ gắn bó với nhau trong quá trình quản lý ngân sách. Ngân sách cấp xã được coi là ngân sách cấp cơ sở. Cấp ngân sách này thể hiện rõ nét các quan hệ của nhà nước mang tính khả thi như thế nào?, hiệu lực quản lý Nhà nước đạt ở mức độ nào?.
Bởi vậy, có thể nói ngân sách cấp xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống NSNN. Được thể hiện trên các góc độ: - Xã là một đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn. HĐND cấp xã với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương được quyền ban hành các Nghị quyết thực hiện nhiệm vụ KT- XH và ngân sách của đơn vị hành chính cấp xã. - Chính quyền cấp xã trực tiếp liên hệ với dân, giải quyết toàn bộ mối quan hệ và lợi ích giữa Nhà nước với dân.
- Cơ cấu thu, chi ngân sách cấp xã thể hiện hầu hết các khoản thu, chi của NSĐP được phân cấp như: thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất (nay là thuế thu nhập cá nhân), các khoản thu hoa lợi công sản. Hoặc có những khoản chi mà chỉ ngân sách cấp xã thực hiện mới đảm bảo tính kịp thời, đúng đối tượng như: chi chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với người có công và đối với các đối tượng xã hội như trẻ mồ côi, người khuyết tật, hộ nghèo, chi khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, chi duy tu bảo dưỡng công trình giao thông công cộng do xã quản lý… Qua đó cho thấy, muốn nâng cao 8 hiệu lực của các chính sách thu, chi NSNN thì nhất thiết phải phát huy tốt vai trò của ngân sách cấp xã trong mọi hoạt động của NSNN. Một đặc điểm rất riêng biệt của ngân sách xã so với các ngân sách khác, đó là: ngân sách cấp xã vừa là một cấp ngân sách, vừa là một đơn vị dự toán đặc biệt, không có đơn vị dự toán cấp dưới, là đơn vị vừa quản lý ngân sách, vừa thực hiện các nghiệp vụ tài chính, thuế, và quản lý quỹ ngân sách, vừa quản lý quỹ tiền mặt, tài sản và các hoạt động kinh tế, dịch vụ trên địa bàn. Với đặc thù đó, để nghiên cứu và tìm ra phương thức quản lý phù hợp là một trong những vấn đề mà các ngành, các cấp quan tâm để ngân sách cấp xã thực sự là công cụ và phương tiện vật chất giải quyết toàn bộ mối quan hệ và lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân bằng pháp luật.2 Vai trò của ngân sách xã - Ngân sách xã cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cấp xã.
Thông qua thu ngân sách xã để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ở cấp xã như các khoản chi lương, phụ cấp, sinh hoạt phí, chi cho quản lý hành chính, chi mua sắm trang thiết bị văn phòng… - Ngân sách xã là công cụ để điều chỉnh, kích thích mọi hoạt động của xã đi đúng hướng, đúng chính sách, chế độ và tăng cường mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã. Bằng việc đề ra hệ thống pháp luật, hệ thống thuế đã kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh lại các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn xã, chống lại các hoạt động kinh tế phi pháp, trốn thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác. - Ngân sách xã góp phần quan trọng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, hệ thống giao thông liên thôn, liên xã được xây dựng mới và nâng cấp thường xuyên, nhờ đó mà các khu dân cư, khu dân cư văn hóa dần được hình thành, tác động đến sự phát triển và giao lưu kinh tế. Kinh tế nông thôn từng bước có sự chuyển dịch từ kinh tế thuần nông sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa, bộ mặt của xã 9 từng bước được đổi mới về vật chất và tinh thần, người dân được hưởng nhiều lợi ích hơn từ giáo dục, y tế.2 Cơ sở kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN 1.1 Khái niệm, đặc điểm của kiểm soát chi thường xuyên NSX và vai trò của KBNN trong công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã 1.1 Khái niệm Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN là việc Kho bạc sử dụng các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý tài chính của Nhà nước.
KBNN thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên ngân sách xã từ lập dự toán, chấp hành dự toán, đến quyết toán ngân sách xã, nhằm đảm bảo mỗi khoản chi thường xuyên ngân sách xã, được thực hiện đúng dự toán được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định và có hiệu quả.2 Đặc điểm Đặcc điểm chính của kiểm soát chi thường xuyên NSX là: Thứ nhất: Kiểm soát chi thường xuyên NSX phần lớn diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời vụ, ngoại trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định. Thứ hai: Nhiều lĩnh vực, nội dung kiểm soát nên rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy, những quy định trong kiểm soát chi với từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng nội dung, từng tính chất nguồn kinh phí cũng có những tiêu chuẩn, định mức riêng theo quy định rất phong phú. Thứ ba: Những khoản chi đều mang tính cấp thiết như: chi tiền lương, tiền công, học bổng.
gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công chức; nhằm đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy chính quyền cấp xã nên những khoản chi này cũng đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng. 10 Thứ tư: Các khoản chi nhỏ lẻ, vì vậy cơ sở để kiểm soát chi như hoá đơn, chứng từ. để chứng minh cho những nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, thường không đầy đủ, không rõ ràng, thiếu tính pháp lý.