Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động TDĐT của Nhà nước tại ngân hàng phát triển Chương 2. Phân tích hoạt động TDĐT của nhà nước tại Chi nhánh NHPT Bắc Giang. Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động TDĐT của nhà nước tại Chi nhánh NHPT Bắc Giang.
4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƢ CỦA NHÀ NƢỚC TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Tổng quan về ngân hàng phát triển Việt Nam 1.1 Ngân hàng phát triển Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, các tổ chức tài chính trung gian – đặc biệt là hệ thống ngân hàng, ngày càng đóng vai trò quan trọng. Các tổ chức này hoạt động như một kênh dẫn vốn hiệu quả, thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư và tài trợ cho các dự án, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững. Phần lớn các hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho chủ sở hữu, song vì mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế là vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế với cơ cấu hợp lý vừa phải đảm bảo các vấn đề xã hội, do đó sự ra đời của các tổ chức hoạt động hướng tới các lợi ích an sinh xã hội là một điều tất yếu.
Ngân hàng phát triển Việt Nam là một tổ chức như vậy. Ngân hàng Phát triển Việt Nam (tên giao dịch tiếng Anh: Vietnam Development Bank, viết tắt: VDB) được thành lập theo Quyết định 108/2006/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 5 năm 2006 trên cơ sở tổ chức lại Quỹ Hỗ trợ phát triển để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng phát triển Việt Nam - Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
- Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển: +Cho vay đầu tư phát triển; + Hỗ trợ sau đầu tư; + Bảo lãnh tín dụng đầu tư. - Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu: + Cho vay xuất khẩu; 5 + Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu; + Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu. - Nhận ủy thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa Ngân hàng Phát triển với các tổ chức uỷ thác. - Ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng Phát triển.
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của Ngân hàng Phát triển theo quy định của pháp luật. - Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu. - Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao. Trong số, các hoạt động nêu trên thì hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là hoạt động chủ yếu của NHPT và thường được dùng để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển lớn của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Những năm gần đây, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng đầu tư xã hội để hỗ trợ cho kênh đầu tư từ ngân sách nhà nước. Ngân hàng Phát triển Việt Nam được sử dụng nguồn vốn hợp pháp bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động trong nước và ngoài nước, nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc 1. Khái niệm về tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc “Tín dụng” xuất phát từ tiếng Latinh là Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm; tiếng Anh là credit.
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định hoàn trả lại với một lượng lớn hơn. Khái niệm tín dụng trên đây được biểu hiện qua 3 đặc điểm cơ bản: (i) Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác; (ii) Sự 6 chuyển giao nói trên mang tính chất tạm thời, trong phạm vi một thời hạn nhất định; (iii) Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị tăng thêm gọi là lợi tức. Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng, tuy nhiên nó vẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng. Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là ngân hàng và một bên là các chủ thể khác trong xã hội (cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, TCTD, các ngân hàng khác).
Tín dụng đầu tư của nhà nước là một hình thức nhằm thực hiện chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước, thể hiện mối quan hệ vay - trả giữa Nhà nước (Ngân hàng Phát triển Việt Nam đại diện cho Nhà nước) với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp có thu trong nền kinh tế có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích, nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định theo định hướng của Nhà nước. Chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước hiện nay được thực hiện theo Nghị định số 32/2017/NÐ-CP ngày 31/3/2017của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước (thay thế Nghị định số 75/2011/NĐ/CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước). Theo đó, tín dụng đầu tư của Nhà nước là việc Ngân hàng Phát triển Việt Nam cho các chủ đầu tư vay vốn để thực hiện dự án đầu tư (thuộc danh mục dự án Nhà nước khuyến khích đầu tư và đáp ứng đủ các điều kỉện theo quy định của NHPT và Nhà nước). Đặc điểm về tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc Tín dụng đầu tư của Nhà nước có các đặc điểm chủ yếu sau: -Là hình thức tín dụng trung và dài hạn, đầu tư nhằm mục đích hướng đến việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho nền kinh tế.
-Một chủ thể trong hoạt động tín dụng đầu tư luôn là Nhà nước. Hiện nay, Nhà nước ủy thác cho một tổ chức thực hiện tín dụng đầu tư là NHPT Việt Nam. -Tín dụng đầu tư có chức năng phân phối và phân bổ các nguồn lực tài chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. * Nguyên tắc cơ bản: Chỉ tài trợ cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, có hiệu quả về kinh tế xã hội, phù hợp với quy hoạch và mục tiêu ưu tiên phát triển 7 kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Hoạt động này được thực hiện theo nguyên tắc không cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại, đảm bảo sự phối hợp bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, phù hợp với nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế. * Không vì mục đích sinh lời: Tín dụng đầu tư gắn với việc điều tiết kinh tế vĩ mô và vấn đề quản lý hành chính theo chủ trương của Nhà nước. Do đó tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, cho vay là các đơn vị, cơ quan chuyên môn của Nhà nước (hiện nay là NHPT Việt Nam), được Nhà nước cấp vốn pháp định, cấp bù lãi suất, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải đảm bảo thu hồi đủ vốn đầu tư và phải tuân thủ theo những quy định của Nhà nước. * Tính chất ưu đãi của tín dụng đầu tư của Nhà nước thể hiện ở một số điểm cụ thể như: Lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường, quy mô cho vay lớn, thời gian cho vay dài, điều kiện đảm bảo nợ vay ưu đãi hơn.
Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay do Bộ Tài chính quy định phù hợp với yêu cầu, mục tiêu và đặc điểm của phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của đất nước. * Tín dụng đầu tư của Nhà nước được thực hiện theo các chương trình do các cơ quan Nhà nước phê duyệt. - Kế hoạch tín dụng đầu tư là một phần quan trọng trong kế hoạch đầu tư của Nhà nước nhằm thực thi những mục tiêu, chiến lược về phát triển kinh tế, xã hội. Việc cho vay đầu tư đối với các dự án thực hiện theo kế hoạch hàng năm do Chính phủ giao cho NHPT.
- Huy động vốn dựa trên nhu cầu giải ngân cho các dự án đăng ký kế hoạch. Ngân hàng Phát triển Việt Nam được sử dụng nguồn vốn hợp pháp bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động trong nước và ngoài nước, nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Đối tƣợng cho vay và đối tƣợng khách hàng * Đối tượng khách hàng: Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp tự chủ về tài chính và tổ chức kinh tế khác là chủ đầu tư dự án thuộc danh mục vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước; * Đối tượng cho vay: Là dự án đầu tư thuộc danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư được ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ, giới hạn chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực then chốt, cần thiết có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh 8 tế - xã hội, hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế tư nhân không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư do hiệu quả thấp, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài (có thể lên đến 15 năm).