Chương 1: Tổng quan về hàng dự trữ quốc gia và quản lý chất lượng hàng dự trữ quốc gia; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chất lượng hàng dự trữ quốc gia tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Đông Bắc giai đoạn 2014 – 2018; Chương 3. Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng hàng DTQG tại Cục Dự trữ Nhà nước khu vực Đông Bắc giai đoạn 2019 - 2023. TỔNG QUAN VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 1. Cơ sở lý luận về hàng dự trữ quốc gia 1.
Khái niệm về hàng dự trữ quốc gia Hàng DTQG bao gồm 02 mặt hàng chính sau: Lương thực (thóc, gạo); Vật tư (xuồng, phao áo, phao bè, nhà bạt, máy bơm chữa cháy, thiết bị khoan cắt. Từ đó cho thấy hàng DTQG là những mặt hàng chiến lược và có các đặc điểm sau. Đặc điểm: Là những mặt hàng thiết yếu, chuyên dùng để phục vụ cho Ủy ban tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn quốc gia và các Tỉnh bị thiên tai, bão lũ xảy ra đột xuất, cấp bách. Trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như trong đời sống kinh tế - xã hội, con người thường xuyên chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường thiên nhiên.
Cho dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến mấy, ở bất cứ trình độ tiên tiến nào; công tác phòng ngừa, bảo vệ có kỹ lưỡng đến đâu thì loài người vẫn và sẽ còn bất lực trước những hiểm họa và rủi ro do thiên nhiên gây ra. Đứng trước những hiểm họa, những lý do bất khả kháng đó đòi hỏi con người phải tự tìm kiếm giải pháp để phòng ngừa, hạn chế, khắc phục những biến có bất ngờ gây ra. Đó chính là cội nguồn của ý tưởng về dự trữ. Ngày nay, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường, tính chất xã hội hóa sản xuất ngày càng cao, cạnh tranh khốc liệt; sự phát triển luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro; vì thế công tác dự trữ, đặc biệt là dự trữ nhà nước ngày càng có vai trò quan trọng; trong nhiều trường hợp được ví như “Chiếc van an toàn” đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
Dự trữ là đưa một bộ phận của cải vật chất của xã hội vào tích lũy, cất giữ để sử dụng vào mục đính phòng ngừa, khắc phục những rủi do, những biến cố bất khả kháng do tiên nhiên, môi trường và đời sống kinh tế xã hội mang lại. Quỹ dự trữ nhà nước được thành lập từ giá trị thặng dư và sự hình thành qũy được tính lũy từ hết năm này sang năm khác; nó được dùng chung liên tục 6 và cũng được lấp đầy thường xuyên hàng năm cho đủ mức cần thiết để có thể cho phép hoạt động của xã hội được vận hành liên tục, bình thường. Như vây, Dự trữ quốc gia là dự trữ của một nước, do Nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các vật tư hàng hoá quan trọng nhất, các loại vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, tiền chưa phát hành và các loại vật tư thiết bị cứu hộ cứu nạn. Là quỹ dự trữ lớn nhất, nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, dịch hoạ gây ra trên quy mô lớn, trong một thời gian nhất định, DTQG là nguồn tích luỹ của quốc gia, là sức mạnh của đất nước.
Dự trữ quốc gia: là thực hiện chiến lược, việc xây dựng, kế hoạch, quy hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia. Như vậy, nội dung của hoạt động DTQG bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình hình thành, duy trì và sử dụng DTQG như dự báo, xây dựng chiến lược, kế hoạch, dự toán ngân sách DTQG; xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật để quản lý DTQG; điều hành nhập, xuất; mua, bán, bảo quản, bảo vệ DTQG và quản lý sử dụng có hiệu quả DTQG. Vai trò của hàng dự trữ quốc gia Dự trữ Quốc gia từng bước vươn lên, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bền vững và bảo đảm ổn định kinh tế-xã hội của đất nước. Nguồn lực dự trữ quốc gia (DTQG) được sử dụng, phát huy có hiệu quả trong cứu trợ, viện trợ, hỗ trợ cho nhân dân các địa phương phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh (QP-AN) trong tình hình mới; được Đảng, Chính phủ và nhân dân tin tưởng, đánh giá cao.
Thời gian qua, các bộ, ngành đã tích cực mua sắm, nhập kho DTQG những mặt hàng tiên tiến, hiện đại, nhất là các mặt hàng an ninh, quốc phòng, đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới; các mặt hàng thuốc vắc-xin, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, hạt giống cây trồng, vật tư, thiết bị cứu hộ, cứu nạn, phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, chữa cháy… lượng tồn kho đủ để đáp 7 ứng nhu cầu khi có thiên tai, dịch bệnh và bảo đảm thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” khi có sự cố xảy ra, giảm được thiệt hại về người và của, kịp thời giải quyết khó khăn trong đời sống của người dân, giúp người dân sớm khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm QP-AN, bảo đảm an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ quan hệ quốc tế. Năm 2018, hàng DTQG xuất cấp cho các địa phương để cứu đói, hỗ trợ Tết Nguyên đán và phòng, chống thiên tai, dịch bệnh chủ yếu là gạo, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, hạt giống cây trồng, vật tư, thiết bị cứu nạn để cứu trợ nhân dân vùng lũ. Việc xuất cấp hàng vật tư, thiết bị phục vụ công tác tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ ngư dân bám biển cũng được quan tâm. Trong thời gian từ năm 2011-2018, Tổng cục DTNN (Bộ Tài chính) đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn xuất cấp hàng vật tư, thiết bị với tổng trị giá khoảng 500 tỷ đồng gồm: Phao áo, phao tròn, phao bè, nhà bạt, xuồng cao tốc các loại, máy bơm chữa cháy.
Việc hỗ trợ vật tư, thiết bị cứu hộ, cứu nạn cho nhân dân các địa phương ven biển đã củng cố lực lượng ngư dân bám biển; góp phần bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế, giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng hàng dự trữ quốc gia 1. Khái niệm về quản lý chất lượng hàng dự trữ quốc gia Chất lượng hàng dự trữ quốc gia là mức độ của các đặc tính hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn chất lượng theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia chuyên ngành, tiêu chuẩn cơ sở; đảm bảo yêu cầu cụ thể theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với từng mặt hàng dự trữ quốc gia cụ thể. Do mục tiêu và yêu cầu của quy trình nghiệp vụ đòi hỏi hàng dự trữ quốc gia phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định và phải tuân thủ quy trình bảo quản nghiêm ngặt để bảo đảm chất lượng; tránh những hệ quả do kém chất lượng mang lại.
8 Hàng dự trữ quốc gia được quản lý theo chu trình nhập kho, xuất kho và lưu kho bảo quản trong một thời gian dài (có mặt hàng bảo quản đến 8 năm và lâu hơn nữa). Do vậy yêu cầu quản lý đặt ra là hàng dự trữ quốc gia phải đảm bảo chất lượng từ khâu nhập kho cho đến khi xuất kho; đây là yêu cầu quản lý đặc trưng của ngành dự trữ, đáp ứng mục tiêu dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thả m ho ̣a, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh. Để quản lý chặt chẽ chất lượng hàng dự trữ quốc gia một mặt cần phải ngày hoàn thiện yêu cầu tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, hoàn thiện công nghệ bảo quản, hệ thống chỉ tiêu chất lượng, yêu cầu kỹ thuật cho từng mặt hàng. Mặt khác phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định về bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia; nâng cao chất lượng điều kiện đảm bảo phục vụ cho công tác quản lý chất lượng: Kho tàng, trang thiết bị công cụ bảo quản, công tác kế hoạch bảo quản, hệ thống định mức bảo quản… 1.
Nội dung quản lý chất lượng hàng dự trữ quốc gia 1. Hàng dự trữ quốc gia phải được quản lý trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với hàng dự trữ quốc gia và bảo đảm phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia chuyên ngành. Đối với những mặt hàng đã có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, trong đó đã quy định cụ thể các chỉ tiêu chất lượng thì áp dụng theo các chỉ tiêu chất lượng, đặc tính kỹ thuật, đặc điểm sử dụng đối với từng mặt hàng dự trữ quốc gia. Đối với những mặt hàng đã có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, trong đó chỉ quy định yêu cầu kỹ thuật, nhóm chỉ tiêu chất lượng mà không quy định các chỉ tiêu chất lượng cụ thể thì áp dụng theo quyết định của Bộ Tài chính ban hành hoặc quyết định của Bộ, ngành ban hành (sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính) các chỉ tiêu chất lượng, đặc tính kỹ thuật, đặc điểm sử dụng cụ thể của nhóm chỉ tiêu chất lượng quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với từng mặt hàng.
Đối với những mặt hàng chưa có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng theo tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế và khu vực công bố áp dụng phù hợp đối với từng mặt hàng. Trường hợp chưa có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế và khu vực, có thể áp dụng theo tiêu chuẩn cơ sở, các quy phạm quy định kỹ thuật của cơ sở sản xuất hoặc tài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất. Việc chưa ban hành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với mặt hàng dự trữ quốc gia mới đưa vào dự trữ; chưa kịp sửa đổi, bổ sung chỉ tiêu kỹ thuật của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành do thay đổi yêu cầu kỹ thuật hoặc công nghệ bảo quản, Thủ trưởng Bộ ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia xây dựng và quyết định chỉ tiêu chất lượng và yêu cầu kỹ thuật bảo quản tạm thời để áp dụng sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính.