Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống thông tin quản lý giáo dục. - Chương 2: Thực trạng hệ thống thông tin quản lý giáo dục của Trường Cao đẳng nghề Nam Định. - Chương 3: Những biện pháp hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý giáo dục tại Trường Cao đẳng nghề Nam Định. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý: Hiện nay, khái niệm quản lý được rất nhiều tác giả định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau: Theo từ điển tiếng Việt thông dụng (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998) là: Quản lý là tổ chức điều khiển hoạt động của một cơ quan đơn vị. Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
[20] Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, tuy nhiên chưa có một định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên từ những ý nghĩa chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục Về quản lý giáo dục có nhiều cách định nghĩa: - M.Kôndacôp “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hoá nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng.” [16] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Khuđôminxky cho rằng: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm trí của trẻ em".[16] Một số tác giả Việt Nam đã định nghĩa quản lý giáo dục như sau: - "Quản lý giáo dục theo định nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội". [20] - "Quản lý nhà trường, QLGD nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục".[30] - "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất".
[36] Từ những khái niệm về quản lý giáo dục, ta có thể hiểu là: Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng tới đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các trường học. - “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường".[34] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Biện pháp và biện pháp quản lý Biện pháp là "Cách làm, cách thức tiến hành một vấn đề cụ thể nào đó" (Từ điển Tiếng Việt. Biện pháp quản lý : "Là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý".
Khái niệm về thông tin và hệ thống thông tin 1. Khái n iệm về thông tin và công nghệ thông tin a) Khái niệm về thông tin: Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên cần đến thông tin. Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, thông tin ngày càng trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con người và khái niệm "thông tin" đang trở thành khái niệm cơ bản, chung của nhiều khoa học. Nhưng từ "lăng kính" của mỗi khoa học ấy chúng ta chỉ nắm bắt được khái niệm thông tin ở từng phương diện.
Thông tin là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất. Nếu trong một sự vật đang diễn ra những biến đổi phản ánh sự tác động của một sự vật khác, thì có thể nói rằng sự vật thứ nhất đang trở thành vật thể mang thông tin về sự vật thứ hai. Nội dung của thông tin chính là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiện tượng được bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với các sự vật khác. Thông tin, vì thế là sự phủ định, sự xoá bỏ tính không khác nhau, nói cách khác, thông tin có thể giải thích như là tính không khác nhau bị xoá bỏ, là tính đa dạng.
Thông tin có mặt ở nơi nào có tính đa dạng, tính không đồng nhất. Khái niệm thông tin đã được sử dụng từ lâu trong cuộc sống cũng như trong khoa học, song việc định nghĩa nó một cách chính xác đầy đủ lại rất khó khăn. Nói về bản chất của thông tin như tác giả Đặng Mộng Lân khẳng định, vẫn là vấn đề chưa được giải quyết. Và, Norbert Winner - người sáng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập điều khiển học, cũng tỏ ra bất lực khi đưa ra "định nghĩa": Thông tin là thông tin, không phải năng lượng, không phải vật chất?.
Nhiều khái niệm về thông tin đã được đưa ra dưới nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau: Dưới góc độ xã hội học: “Tất cả những gì có thể giúp con người hiểu đúng về đối tượng mà họ quan tâm đến đều được gọi là thông tin”. Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học: “Thông tin có thể được hiểu là nội dung những trao đổi giữa hệ thống mà môi trường được sử dụng nhằm mục đích điều khiển hoạt động của hệ thống đó”. Với quan điểm của khoa học quản lý: “Thông tin được coi là những tin tức mới được thu nhận, được hiểu và được đánh giá là có ích cho việc ra các quyết định quản lý”. Ngoài những cách tiếp cận theo từng góc độ trên, một số cách tiếp cận đã có tầm khái quát hơn, chẳng hạn "thông tin là dữ liệu mà có thể nhận thấy, hiểu được và sắp xếp lại với nhau hình thành kiến thức", hay "thông tin là sự truyền đưa độ đa dạng" (R.Esbi) hoặc "Thông tin là nội dung thế giới bên ngoài được thể hiện trong sự nhận thức của con người" (N.Afanaxep viết: “Lượng thông tin được coi là mức giảm bớt tính bất định nhờ việc truyền đạt thông tin”.
Cùng với sự phát triển của lý thuyết thông tin, điều khiển học, tin học là những khoa học trực tiếp nghiên cứu thông tin, triết học đã không ngừng cố gắng làm rõ bản chất chung nhất, khái quát nhất của thông tin. Cho đến nay, tuy có những vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu nhưng một định nghĩa của triết học về thông tin đã được nêu ra khá xác đáng, đó là: "Thông tin là cái đa dạng được phản ánh". b) Một số thuật ngữ sử dụng trong công nghệ thông tin: Các thuật ngữ dưới đây được trích dẫn từ Điều 4, Luật Công nghệ thông tin ban hành theo Luật số 67/2006/QH11 ngày 12/07/2006: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số. - Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu.
- Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này. - Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; phát triển công nghiệp công nghệ thông tin và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin. - Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh; cụm linh kiện; linh kiện; bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện. - Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định.
- Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin. - Số hóa là việc biến đổi các loại hình thông tin sang thông tin số. Hệ thống thông tin a) Hệ thống: - Phần tử (element): Là tế bào của hệ thống, nó có tính chất riêng và có tính độc lập tương đối. Trong giáo dục, khái niệm “phần tử” được hiểu một cách linh hoạt, nó có thể là một lớp trong một trường học, một cấp học trong một ngành học trong hệ thống GDQD, một bộ phận trong cơ cấu của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cơ quan quản lý giáo dục (ví dụ một Vụ chỉ đạo trong cơ quan Bộ GD&ĐT), cũng có thể là một mặt hoạt động của quá trình giáo dục tổng thể (ví dụ hoạt động dạy và học), v.