mở đầu, kết luận, các danh mục tham khảo, bảng biểu, sơ đồ, luận văn bao gồm 3 chƣơng chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Vietinbank Hồng Bàng Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Vietinbank Hồng Bàng trong thời gian tới 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC NGÂN HÀNG 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại nguồn nhân lực NHTM 1. Khái niệm nguồn nhân lực NHTM Nguồn nhân lực là nguồn lực về con ngƣời và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh, tùy theo cách tiếp cận khác nhau sẽ cho ta nhiều khái niệm khác nhau. Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã đặt ra, luận văn tập trung nghiên cứu trên 2 góc độ: [15] - Trên phƣơng diện tăng trƣởng kinh tế: yếu tố con ngƣời đƣợc đề cập đến với tƣ cách là là lực lƣợng sản xuất chủ yếu, là phƣơng tiện để sản xuất hàng hóa, dịch vụ.
Ở đây, con ngƣời đƣợc xem xét từ góc độ là lực lƣợng lao động cơ bản nhất của xã hội. Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lƣợng lao động theo yêu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tốc độ tăng trƣởng sản xuất và dịch vụ. - Trên phƣơng diện khía cạnh về vốn: Con ngƣời đƣợc xem xét trƣớc hết nhƣ một yếu tố của quá trình sản xuất, một phƣơng diện để phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tƣ cho con ngƣời đƣợc phân tích với tính chất là sự “tƣ bản hóa các phúc lợi” tƣơng tự nhƣ đầu tƣ vào các nguồn vật chất có tính đến tổng hiệu quả các đầu tƣ này hoặc thu nhập mà con ngƣời và xã hội thu đƣợc từ các nhà đầu tƣ đó.
Theo cách nghiên cứu trên, ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn ngƣời (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn nhân lực đƣợc xem nhƣ một nguồn vốn bên cạnh những nguồn vốn vật chất khác nhƣ vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… đầu tƣ cho con ngƣời, giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tƣ và đƣợc coi là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững. [2] Cũng trên cơ sở nghiên cứu trên, Liên hiệp quốc (UNO) đƣa ra khái niệm nguồn nhân lực là tất cả các kiến thức, kỹ năng, năng lực của con ngƣời 4 có quan hệ tới sự phát triển của đất nƣớc. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong kết cấu hạ tầng xã hội – kinh tế.
Từ những quan niệm nêu trên, rút ra: Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là lực lƣợng lao động đã có và sẽ có, mà đó là cả một tập hợp gồm nhiều yếu tố nhƣ trí tuệ, sức lực, kĩ năng, phong cách nghề nghiệp… gắn với sự tác động của môi trƣờng đối với lực lƣợng lao động đó. [3] Theo cách tiếp cận trên thì nguồn nhân lực của NHTM là tất cả con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của tất cả những thành viên trong NHTM, bao gồm cả những cán bộ quản lý của Ngân hàng và các cán bộ, nhân viên thực thi các nghiệp vụ Ngân hàng, cũng nhƣ những nhân viên ở các bộ phận khác trong NHTM nhƣ lễ tân, phục vụ… 1. Đặc điểm nguồn nhân lực NHTM Dựa trên đặc thù ngành kinh doanh hàng hóa đặc biệt là tiền tệ và dịch vụ tài chính, nguồn nhân lực của NHTM có đặc điểm chung nhƣ sau: [6] - Về mặt bằng kiến thức: do hoạt động NHTM là cấp tín dụng và đầu tƣ cho nền kinh tế nên đòi hỏi cán bộ NHTM phải am hiểu và có kiến thức tổng hợp của nhiều chuyên ngành SXKD, nhiều loại đặc thù quản lý. - Về năng lực: Nhạy bén, sáng tạo, năng động do xuất phát từ đặc điểm của kinh doanh hàng hóa đặc thù là tiền tệ.
- Về phong cách: NHTM thực hiện chức năng”đi vay để cho vay” kinh doanh dựa trên sự “tín nhiệm” nên ngƣời cán bộ NHTM cần phải có phong cách chững chạc, tự tin, quyết đoán, đạo đức tốt, tạo đƣợc niềm tin tƣởng cho khách hàng ở cả góc độ là ngƣời gửi tiền và các nhà đầu tƣ vay vốn. Phân loại nguồn nhân lực của NHTM - Cán bộ lãnh đạo: Là cấp quản trị cao nhất, là ngƣời đứng đầu, chỉ huy, có quyền quyết định chiến lƣợc, định hƣớng chung cho hoạt động của NHTM, xây dựng và quản lý các mục tiêu định hƣớng ngắn hạn và dài hạn cho NHTM. Ở vị trí cao nhất, với nhiệm vụ to lớn và nặng nề nhƣ trên, những ngƣời lãnh đạo NHTM cần đáp ứng những đòi hỏi nhất định trên nhiều 5 phƣơng diện: Năng lực nhận thức, năng lực ra quyết định, năng lức tổ chức quyết định điều hành, có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm và thâm niên công tác, có phẩm chất đạo đức tốt. - Cán bộ quản trị cấp trung gian: Là những ngƣời phụ trách, đứng đầu các bộ phận, các nhóm (phòng, ban, sở…); trực tiếp chỉ đạo, điều hành hoạt động của nhân viên.
Đây là những ngƣời có kinh nghiệm, có ý chí, có khả năng thực hiện và hƣớng dẫn, động viên ngƣời khác cùng hoàn thành nhiệm vụ, có bản lĩnh, có hoài bão để hoàn thành sứ mạng của mình, bất chấp mọi khó khăn gian khổ, phải biết làm cho thuộc cấp vừa tuân phục, vừa mến mộ với tƣ cách tấm gƣơng cho mọi ngƣời học tập noi theo, biết làm cho mọi ngƣời hợp tác với nhau dể làm việc, biết nhận ra, biết khai thác, sử dụng khả năng của cấp dƣới, giúp họ ý thức trách nhiệm, để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. - Chuyên gia: Bao gồm tất cả những ngƣời đƣợc các nhà lãnh đạo sử dụng với tƣ cách làm tham mƣu, cố vấn, là ngƣời đƣa ra ý kiến để các cấp lãnh đạo và quản trị với nghĩa là cấp quản trị trực tuyến lựa chọn và ra quyết định. Những chuyên gia này là những ngƣời có nhiều kinh nghiệm, kiến thức về một số lĩnh vực chuyên môn náo đó. - Nhân viên: Là những ngƣời thực hiện các công việc cụ thể theo kế hoạch đề ra tuân thủ mệnh lệnh của các cấp quản trị.
Công việc của họ là hoàn thành các phần việc đƣợc giao theo khả năng và kiến thức sẵn có, phối kết hợp với các viên chức khác để hoàn thành công việc cụ thể. Đây là lực lƣợng đông đảo nhất, chiếm đại bộ phận trong lực lƣợng lao động của NHTM. Do đó mục tiêu của NHTM có đạt đƣợc hay không, uy tín cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào lực lƣợng lao động này. Tiêu chuẩn của loại nhân lực này, không đòi hỏi cao nhƣ ba loại trên, nhƣng cũng phải đảm bảo: có trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ; tính cách cần thiết phù hợp với công việc; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong làm việc; ý thức cầu tiến; phong cách ứng xử; khả 6 năng giao tiếp; phẩm chất đạo đức; các tiêu chuẩn khác phù hợp từng vị trí lĩnh vực công tác.
Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực NHTM 1. Khái niệm Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định và chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động để họ có thể đảm nhận đƣợc một số công việc nhất định. Đào tạo gồm đào tạo kiến thức phổ thông và đào tạo kiến thức chuyên nghiệp. Nhƣ vậy có thể xem đào tạo nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm giúp ngƣời lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
[2] Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức đƣợc tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của ngƣời lao động. Phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập đƣợc tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho ngƣời lao động. Các hoạt động đó có thể đƣợc cung cấp trong vài giờ, vài ngày thậm chí đến vài năm, tuỳ vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho ngƣời lao động theo hƣớng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ. [2] Có thể thấy cả đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đều là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho nguồn nhân lực của tổ chức.
Song đào tạo và phát triển là không giống nhau, chúng khác nhau ở định hƣớng, phạm vi, thời gian và mục đích. Cụ thể, đào tạo định hƣớng vào hiện tại, tập trung nâng cao kĩ năng cần thiết, khắc phục những thiếu hụt về mặt kiến thức giúp các cá nhân thực hiện tốt công việc hiện tại của mình. Đào tạo thực hiện ở phạm vi cá nhân và trong thời gian ngắn. Phát triển nguồn nhân lực lại chú trọng vào các công việc tƣơng lai của tổ chức, nó giúp các cá nhân trang bị sẵn những kiến thức, kỹ năng mới cần thiết trong việc thăng tiến lên chức vụ mới.
Phát triển thực hiện ở cả phạm vi cá nhân và tổ chức, và đƣợc 7 tiến hành trong dài hạn. Hai hoạt động này phải tiến hành đồng thời đối với mỗi cá nhân trong tổ chức để khai thác hết hiệu quả của hoạt động này và xây dựng một đội ngũ nguồn nhân lực chất lƣợng cao, ổn định cho tổ chức. Hiện nay vai trò và vị trí của hoạt động này ngày càng quan trọng hơn trong mọi tổ chức. Nhƣ vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực NHTM là một hoạt động có tổ chức, đƣợc điều khiển trong một thời gian nhất định theo những kế hoạch đã đƣợc xác định, bằng các kiến thức và phƣơng pháp khác nhau đem lại sự thay đổi về chất cho ngƣời lao động.
Vai trò của đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đối với NHTM * Đối với NHTM Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của các NHTM. [8] - Đào tạo và phát triển giúp nâng cao năng suất lao động: Thông qua công tác đào tạo và phát triển mà kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên ngân hàng đƣợc nâng cao, giúp họ trở nên thích nghi với công việc hơn.