CHƯƠNG I LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại: Hoạt động Ngân hàng bắt đầu tưø rất sớm, khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Lúc bấy giờ, hoạt động Ngân hàng đã được hình thành nhưng chỉ là các nghiệp vụ thô, đơn giản xảy ra giữa các nhà thờ và các nhà kinh doanh thời đó.
Đến cuối thế kỷ XIX, do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cận đại diễn ra ở châu Aâu đã ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới, làm phát sinh mạnh mẽ các nhu cầu về mở rộng sản xuất và phát triển thương mại. Do đó đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của hệ thống NHTM ở các nước trên thế giới. Như vậy, NHTM đã ra đời do sự phát triển của nền kinh tế, nó được hình thành và phát triển một cách khách quan. Theo luật NHVN: NHTM là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Theo Điều 1, Khoản I – Pháp lệnh Ngân hàng ghi: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Theo các định nghĩa trên thì NHTM là moät doanh nghiệp như các doanh nghiệp khác nhưng khác cơ bản là Ngân hàng kinh doanh tiền tệ. Đây là một hình thức kinh doanh đặc biệt. Một tổ chức kinh doanh tiền tệ được gọi là Ngân hàng phải hội đủ 3 yếu tố (nếu thiếu 1 trong 3 yếu tố thì chỉ được gọi là tổ chức phi Ngân hàng): - Nhận tiền gửi của công chúng.
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán. Trong quan hệ ngày nay, khi mà sự phát triển kinh tế diễn ra nhanh chóng, quan hệ kinh tế có tính chất quốc tế thì hoạt động của NHTM không chỉ bó hẹp trong phạm vi một nước mà phải mở rộng ra toàn cầu và ngoài hoạt động chính, Ngân hàng còn tiến hành vô số các dịch vụ khác như giao dịch hối đoái, kinh doanh vàng, bạc, đá quý… nhằm tối đa hóa lợi nhuận của Ngân hàng. Chức năng cơ bản của NHTM: 1. Chức năng tạo tiền: “ Một trong những chức năng chủ yếu của NHTM là khả năng tạo tiền và huỷ tiền”.
Quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống Ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với Ngân hàng Trung ương của mỗi nước. Nhờ hoạt động chuyển khoản trong hệ thống Ngân hàng mà các NHTM đã tạo ra bút tệ và chỉ tạo bút tệ trong một giới hạn nhất định dưới sự kiểm soát của NHTW. Quá trình tạo tiền là hệ quả tổng hợp của hoạt động nhận tiền gửi, thanh toán họ và cho vay của NHTM lieân hệ và luôn luôn có sự trợ giúp của NHTW. Chức năng tạo tiền của NHTM chỉ được thực hiện nếu vốn mà NHTM huy động đã cho vay được và số tiền vay đó phải được luân chuyển trong hệ thống NHTM.
Chức năng trung gian tài chính: Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Để thỏa mãn nhu cầu một bên muốn tạm thời vay mượn một khoản tiền nào đó nhằm sử dụng cho sản xuất và tiêu dùng (cần tiền nhưng chưa có tiền) và một bên muốn tạm thời bán quyền sử dụng một khoản tiền để thu lợi (thừa tiền và chưa có nhu cầu sử dụng đến) thì phải có một trung gian tài chính thực hiện điều này bằng cách thu nhặt các khoản tiền tệ “đang tạm thời nhàn rỗi” và chuyển nó đến cho những người có nhu cầu sử dụng. Giữ vai trò trung gian tài chính, NHTM thực sự là chiếc cầu nối, góp phần tạo lợi ích trọn vẹn cho cả 3 bên: người gửi tiền, Ngân hàng, người đi vay. - Đối với người gửi tiền thì họ sinh lời được vốn tạm thời nhàn rỗi bởi lãi suất tiền gửi mà Ngân hàng trả cho họ.
Ngân hàng tạo cho họ sự an toàn về tiền gửi và cung cấp các phương tiện thanh toán. - Đối với người đi vay thì họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu cần vốn của mình một cách hợp lệ với một lãi suất thấp. - Đối với NHTM, NHTM làm trung gian tài chính để thông qua đó kiếm được khoản lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Lợi nhuận đó là cơ sở tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
Ngân hàng có trách nhiệm pháp lý đối với người gửi tieàn và người đi vay, phải hoàn trả tiền gốc và lãi cho người gửi tiền, và sử dụng tiền gửi đó quyết định cho ai vay. Như vậy, Ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng của NHTM là đi vay để cho vay. Caù nhaän tieàn cho Caù nhaân, göûi NHTM vay nhaân, uyû thaùc ñaàu tö Doanh ñaàu tö Doanh nghieäp nghieäp 1. Chức năng huy động tiền gửi: Huy động tiền gửi là chức năng quan trọng của NHTM nhằm tạo điều kiện cho người gửi tiền có được khoản thu nhập danh nghĩa thông qua lãi suất huy động tiền gửi.
Ngân hàng dùng vốn huy động đó để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp hoặc cá nhân có mục đích mở rộng khả năng sản xuất, phục vụ cho sinh hoạt hay nhằm mục đích khác. Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý phương tiện thanh toán: Thực chất chức năng này là NHTM làm thủ quỹ thực hiện các dịch vụ uỷ thác của khách hàng, tức là Ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi. Khi NHTM ra đời và phát triển thì hầu hết các khoản thanh toán chi trả về hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế (cá nhân, doanh nghiệp) đều chuyển giao cho Ngân hàng thực hiện, việc thanh toán trở nên tiện lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí, mọi quan hệ thanh toán được thực hiện bằng cách các chủ thể mở tài khoản tại Ngân hàng và yêu cầu Ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc uỷ nhiệm cho Ngân hàng thực hiện việc thu nhận các khoản tiền trả vào tài khoản của mình.
Trong khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán…) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí về lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. NGUỒN VỐN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM: 2. Vốn tự có: Vốn tự có là vốn riêng của Ngân hàng được hình thành từ sự đóng góp của các chủ sở hữu và một phần tích lũy được từ kết quả kinh doanh của Ngân hàng. Tuy nó chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh nhưng nó có vai trò quan trọng vì nó phản ánh sự “giàu có” và vững chắc của Ngân hàng, là cơ sở khẳng định sức mạnh, vị thế của Ngân hàng đối với các đối thủ khác trong việc thu hút và duy trì quan hệ với khách hàng.
Vốn tự có bao gồm: 2. Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập Ngân hàng do Pháp luật quy định. Tuỳ vào loại hình Ngân hàng mà mức vốn pháp định được hình thành từ những nguồn khác nhau: Đối với Ngân hàng Nhà nước thì vốn pháp định do Nhà nước cấp khi thành lập Ngân hàng. Đối với Ngân hàng liên doanh thì vốn pháp định do sự đóng góp của Ngân hàng nước sở tại và Ngân hàng nước ngoài.
Đối với Ngân hàng nước ngoài thì vốn pháp định do Ngân hàng nước ngoài cấp. Đối với Ngân hàng cổ phần thì vốn pháp định do sự đóng góp của các cổ đông. Các quỹ : như quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng… Đây là các quỹ dùng để bổ sung vốn điều lệ. Vốn khác: là phần lợi nhuận chưa chia, đaùnh giá lại tài sản… 2.
Nguồn vốn huy động tiền gửi: 2. Khái niệm tiền gửi: Tiền gửi là một loại tài sản nợ của Ngân hàng được hình thành bởi các khoản ký thác của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong xã hội mà Ngân hàng được quyền sử dụng cho hoạt động của mình (cho vay, đầu tư…). Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng phải có nhiệm vụ hoàn trả cả gốc và lãi, đồng thời phải cung ứng các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, chuyển ngân theo đúng yêu cầu của khách hàng gửi tiền. Các hình thức huy động tiền gửi: a.
Tiền gửi thanh toán: - Khái niệm: Tiền gửi thanh toán là số tiền mà khách hàng gửi vào Ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả về hàng hóa, dịch vụ, chi trả khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của khách hàng và Ngân hàng phải đáp ứng kịp thời theo lệnh của khách hàng. Các lệnh của khách hàng thể hiện qua séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán … - Đặc điểm: Là một bộ phận của nguồn vốn huy động, luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Là nguồn vốn bị động, Ngân hàng phải chờ khách hàng tới gửi. Khách hàng mở tài khoản mục đích chủ yếu là để giao dịch, chứ không phải là hưởng lãi nên Ngân hàng có thể trả lãi hoặc là không trả lãi, do đó đây là một nguồn vốn huy động với chi phí thấp, mặt khác Ngân hàng còn có thể thu phí dịch vụ.
Đây là bộ phận tiền đang chờ thanh toán, do vậy khách hàng không mất đi quyền sử dụng nên bất cứ lúc nào có lệnh rút tiền của khách hàng, Ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ. Còn phía Ngân hàng có quyền sử dụng để cho vay, đầu tư song phải dự trữ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Bản chất của nguồn vốn này là bất ổn vì khách hàng có thể gửi tiền vào hay rút ra bất cứ lúc nào.