CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nước ta là một nước nông nghiệp với phần lớn dân số sống bằng nghề nông. Xuất phát từ thực tế trên, Nhà nước ta đã chủ trương đầu tư nhiều hơn cho ngành nông nghiệp, làm cho ngành nông nghiệp giữ vị thế vững mạnh, đủ sức cạnh tranh với khu vực và thế giới. Muốn vậy phải chú trọng việc tăng năng suất và chất lượng sản phẩm trong nông nghiệp. Tuy nhiên, người nông dân không đủ vốn để đáp ứng nhu cầu này nên các Ngân hàng nông nghiệp cần hỗ trợ người nông dân trong sản xuất.
Đây chính là cầu nối vững chắc giúp người nông dân có vốn đầu tư vào sản xuất, giúp Chính phủ đạt được mục tiêu hiện đại hóa nông nghiệp. Với đặc điểm sản xuất nông nghiệp của người nông dân chủ yếu là hoạt động ngắn hạn như: trồng trọt, chăn nuôi,…nên phần lớn họ cần nguồn vốn có thời hạn ngắn để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay, thu nhập chính của các Ngân hàng chủ yếu là từ hoạt động tín dụng mà đặc biệt là các Ngân hàng thương mại Nhà nước khi mà các dịch vụ thu phí khác chưa được mở rộng. Bên cạnh đó, việc tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý ở nông thôn vẫn chưa thật sự phổ biến vì nạn “tín dụng đen” vẫn còn tồn tại.
Để hạn chế hoạt động cho vay nặng lãi và đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất của người nông dân thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chính là cầu nối vững chắc giúp người nông dân có vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Với vai trò từng bước đẩy mạnh và mở rộng các phương thức hoạt động từ huy động vốn đến cho vay một cách linh hoạt nhằm đáp ứng khá đầy đủ, kịp lúc, kịp thời nhu cầu về vốn cho hộ nông dân - những hộ thiếu vốn, từng bước đưa sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả, góp phần nâng cao mức sống của người dân và góp phần làm cho xã hội phát triển. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thật sự trở thành người bạn thân thiết của nông dân. Điều đó thể hiện qua quá trình đầu tư vốn cho nông dân phát triển sản xuất, từng bước nâng cao đời sống người dân, giải quyết việc làm góp phần 1 phát triển kinh tế nông thôn nhất là trong quá trình hội nhập.
Tuy nhiên, đầu tư vốn vào nông nghiệp chủ yếu là cho vay hộ nông dân vẫn còn một số tồn tại. Để mở rộng và phát triển hoạt động cho vay hộ nông dân cần phải phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng của đồng vốn vay một cách chính xác. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển nông nghiệp địa phương, em đã chọn đề tài: “Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang” để làm luận văn tốt nghiệp.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Phân tích chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nhằm thấy được thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng qua 3 năm 2007-2009. Từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hoạt động tín dụng ngắn hạn hộ sản xuất cũng như đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.2 Mục tiêu cụ thể - Đánh giá chung về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng qua 3 năm (2007,2008,2009) để thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Phân tích tình hình huy động vốn nhằm đánh giá về khả năng huy động vốn của Ngân hàng. - Phân tích hoạt động tín dụng ngắn hạn hộ sản xuất thông qua việc phân tích doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ và nợ xấu. - Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn của hộ sản xuất qua một số chỉ tiêu đánh giá. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn của hộ sản xuất tại Ngân hàng.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU Trong đề tài này, em chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động tín dụng ngắn hạn hộ sản xuất.
2 Thời gian thực hiện đề tài từ 17/5/2010 đến 14/6/2010, đây là thời gian thực tập tại cơ quan. Số liệu phân tích được lấy từ năm 2007 đến năm 2009. 3 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 KHÁI NIỆM TÍN DỤNG: 2.1 Khái niệm: Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Quan hệ này được thể hiện qua các nội dung sau: + Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định, giá trị có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật như hàng hóa, máy móc, trang thiết bị… + Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời lượng giá trị chuyển giao trong một thời gian nhất định.
Sau khi hết hạn sử dụng ngời đi vay phải có nghĩa vụ hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn ban đầu, phần dôi ra được gọi là lợi tức.2 Bản chất của tín dụng: Tín dụng la hình thức vận động của vốn cho vay, nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc lẫn lợi tức. Quan hệ tín dụng ra đời bắt nguồn từ sự xuất hiện mối quan hệ cung cầu về vốn giữa người đi vay và người cho vay. Trong các doanh nghiệp, do đặc điểm chu chuyển vốn nên trong từng thời điểm thường xuyên có một bộ phận vốn nhàn rỗi, nhưng vốn cứ để nhàn rỗi trong két sắt nên vốn không đẻ ra tiền. Bởi vậy họ rất cần cho vay để thu lợi, trong đó một số doanh nghiệp khác muốn có vốn để thanh toán, để mở rộng và hiện đại hóa doanh nghiệp nhưng chưa tích luuyx vốn kịp.
Tương tự như vậy, trong dân cư và trong các tổ chức xã hội cũng có số tiền nhàn rỗi cần được sinh lợi nên có khả năng cho vay. Rõ ràng cùng trong một thời điểm nơi thì có vốn nhưng chưa cần sử dụng, nơi thì cần vốn nhưng chưa tích lũy kịp. Mâu thuẫn đó được giải quyết thông qua quan hệ tín dụng.3 Đặc điểm của tín dụng: Quyền sở hữu vốn tách rời quyền sử dụng vốn, còn có đặc điểm lớn là có nhiều quan hệ tín dụng khác nhau với nhiều nguồn lợi tức khác nhau phản ánh nền kinh tế nhiều thành phần.4 Chức năng của tín dụng: Trong nền kinh tế thị trường tín dụng có hai chức năng sau: * Chức năng phân phối lại tài nguyên: Tín dụng là sự chuyển nhượng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác. Thông qua sự chuyển nhượng này, tín dụng góp phần phân phối lại tài nguyên, thể hiện ở chỗ: - Người cho vay có một số tài nguyên tạm thòi chưa dung đến, thông qua tín dụng, số tài nguyên đó được phân phối lại cho người đi vay.
- Ngược lại, người đi vay cũng thông qua quan hệ tín dụng nhận được phần tài nguyên được phân phối lại. * Chức năng thú đẩy lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất: Nhờ tín dụng mà quá trình chu chuyển tuần hoàn vốn trong từng đơn vị nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế nói chung được thực hiện một cách tuần hoàn và liên tục. Do đó, tín dụng góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa.5 Phân loại tín dụng: Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng hoạt động đa dạng và rất phong phú. Trong quản lý tín dụng, các nhà kinh doanh đã dựa vào các tiêu thức để phân chia tín dụng.
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng, chia ra làm 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn: là những khoản cho vay có thời hạn tối đa 12 tháng để nhằm bổ sung vào vốn lưu động thiếu hụt tạm thời của khách hàng. - Tín dụng trung dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, dung để cho vay vốn mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xât dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng trên 5 năm được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. * Căn cứ vào đối tượng cho vay vốn tín dụng: 5 - Tín dụng vốn lưu động là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn lưu động như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên liệu cho sản xuất.
- Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng cung cấp để hình thành vốn cố định. Loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn. Tín dụng vốn cố định thường được cấp phát phục vụ cho việc mua sắm đầu tư tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng: - Tín dụng săn xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng cung cấp cho các nhà doanh nghiệp, hộ gia đình, cá thể để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng tiêu dung là hình thức tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dung. * Căn cứ vào chủ thể tín dụng: - Tín dụng thương mại. - Tín dụng ngân hàng. - Tín dụng nhà nước.
- Tín dụng quốc tế.6 Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghiệp vụ tài chính đối với Ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho Ngân hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động và có thể làm cho Ngân hàng bị phá sản. Đây là rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất. Thông thường ở các nước, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu nhập cho Ngân hàng.