Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xã hội hóa y tế. Chương 2: Thực trạng công tác xã hội hoá y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện An Lão, Hải phòng giai đoạn 2015- 2019. Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh công tác xã hội hoá y tế tại Bệnh viện đa khoa An Lão, Hải Phòng.CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÃ HỘI HÓA Y TẾ 1. Lý luận chung về công tác xã hội hóa y tế 1.
Khái niệm xã hội hóa và xã hội hóa y tế Xã hội hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của xã hội vào công cuộc phát triển đất nước. Khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng về nhân lực, vật lực của nhân dân và toàn xã hội trên cơ sở đổi mới cơ thế quản lý, đa dạng hóa các hình thức hoạt động. Những nguồn đầu tư tạo điều kiện cho các hoạt động phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Xã hội hoá không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước mà xã hội hóa mở rộng nguồn đâu tư, khai thác các nguồn lực từ toàn xã hội.
Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn tài chính để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó. Xã hội hóa y tế được hiểu như sau: “Xã hội hóa dịch vụ y tế là tổ chức vận động sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể trong xã hội, cũng như các nhà đầu tư vào việc cung cấp dịch vụ y tế, để từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ này, góp phần phục vụ mức hưởng thụ dịch vụ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân” [21]. Nội dung cơ bản của công tác xã hội hóa y tế - Tổ chức tốt sự tham gia tích cực, chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng và tư cách cá nhân, trên cả hai mặt hoạt động và đóng góp: Vận động người dân tự giác tham gia các hoạt động CSSK các phong trào vệ sinh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh, phòng dịch và xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.Tăng cường sử dụng y học cổ truyền, nuôi, trồng các loại cây thuốc nam. Nhân dân tham gia đóng góp, chi trả cho các dịch vụ CSSK thông qua chế độ thu viện phí, tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.
- Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành liên quan vì mục tiêu sức khoẻ cho mọi người: Làm rõ vai trò, nhiệm vụ của các đơn vị và tổ chức tốt 6 việc phối hợp giữa các bộ, ban ngành, đoàn thể xã hội trong việc CSSK cho người dân. - Củng cố vai trò nòng cốt của ngành y tế: Sửa đổi mức thu viện phí ở các cơ sở y tế công cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội hiện nay trên nguyên tắc giá viện phí được tính gần đủ các chi phí trực tiếp phục vụ người bệnh, song thực hiện có lộ trình cụ thể để nhân dân có thể chấp nhận. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở các bệnh viện để thu hút đông đảo người dân tham gia bảo hiểm y tế. Thực hiện tốt quản lý nhà nước, quản lý chuyên môn đối với khu vực y tế ngoài công lập.
Từng bước tiến hành Bảo hiểm y tế toàn dân. - Đa dạng hoá các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ: cho phép thành lập các bệnh viện bán công, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, các phòng khám tư nhân, các xí nghiệp dược phẩm tư nhân hoặc cổ phần. Nhằm cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao, thuận tiện trong việc KCB cho người dân và đồng thời giảm bớt sức ép cho ngân sách Nhà nước. - Tổ chức tốt công việc khám chữa bệnh cho người nghèo, người có công, đối tượng bảo trợ: Chính phủ hỗ trợ 1 phần, đồng thời khuyến khích hội chữ thập đỏ, các hội từ thiện, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế của nhà nước và tư nhân đóng góp để xây dựng các quỹ trợ giúp cho người nghèo được KCB, mua BHYT cho các gia đình có công với đất nước và cho người nghèo.
Vai trò của công tác xã hội hóa y tế Thực hiện công tác XHH y tế giúp trình độ kỹ thuật y tế của Việt Nam dần tiến bộ ngang với các nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng được nhu cầu KCB của người dân, giảm tử vong hạn chế được việc đi chữa bệnh ở nước ngoài, đặc biệt giảm sức ép cho ngân sách nhà nước. Vai trò của xã hội hóa y tế được thể hiện như sau: 7 Huy động mọi nguồn lực trong dân Với mọi quốc gia, chi tiêu cho CSSK luôn là khoản chi có mức tăng cao nhất. Điều này vừa xuất phát từ phía cầu (nhu cầu CSSK của người dân ngày càng tăng), vừa xuất phát từ phía cung (kỹ thuật hỗ trợ KCB ngày càng phát triển với nhiều máy móc, thiết bị hiện đại, đắt tiền) vừa xuất phát từ những bối cảnh khách quan (bệnh dịch, tai nạn… ngày càng nhiều). Việt nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó khiến NSNN chi cho y tế dù liên tục tăng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu cho ngành y.
XHH y tế là kênh quan trọng trong việc huy động nguồn lực trong dân phục vụ cho sự nghiệp y tế, từ sự đầu tư của khu vực tư nhân đến sự đóng góp của người bệnh qua kênh viện phí. Những nguồn tài chính này đã bù đắp phần thiếu hụt về nguồn lực để duy trì hoạt động cũng như sự phát triển cho ngành y. Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Xã hội hóa y tế đã đáp ứng nhu cầu trong CSSK nhân dân của hai nhóm người với hai cách thức khác nhau. Với nhóm người thu nhập cao, các hình thức KCB theo yêu cầu, hay sự phát triển của y tế tư nhân giúp họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ được cung cấp dịch vụ phục vụ với chất lượng cao hơn.
Nguồn lực có được từ công cuộc XHH y tế cũng sẽ tác động tích cực tới chất lượng chuyên môn về KCB khi các bác sỹ vừa có nhiều thiết bị máy móc hiện đại hỗ trợ cho công tác chẩn đoán và điều trị, vừa có thu nhập xứng đáng hơn. Bệnh nhân hài lòng với dịch vụ KCB trong nước sẽ không phải ra nước ngoài điều trị, hạn chế được những tốn kém không cần thiết. Với nhóm người nghèo có thu nhập thấp hay các đối tượng neo đơn, XHH y tế là cơ chế mang đến cho họ nhiều lợi ích như thẻ BHYT miễn phí cho người nghèo, trẻ em và các đối tượng có công. Khi các bệnh viện được thu viện phí, được cung cấp dịch vụ theo yêu cầu cũng là lúc ngân sách nhà nước cho các bệnh viện này giảm mạnh.
Phần ngân sách ấy thay vì trợ cấp cho bên cung bây giờ sẽ được trợ cấp trực tiếp cho bên cầu (mua thẻ BHYT cho các đối tượng chính sách) vốn là hình thức trợ cấp được đánh giá cao hơn. Hơn nữa, nguồn ngân sách ít ỏi này 8 cũng sẽ được dành cho các hoạt động y tế dự phòng vẫn được coi là rất có hiệu quả về lâu dài và mang lại lợi ích nhiều cho các vùng miền còn khó khăn về tài chính. Hoàn thiện cơ chế thị trường trong lĩnh vực y tế Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới nền kinh tế từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã dần được định hình trong các ngành, các lĩnh vực và phát huy vai trò của nó. Nhưng đối với một lĩnh vực xã hội mang tính chất đặc thù như nghành y tế thì vẫn còn chậm đổi mới và lúng túng trong việc xây dựng cơ chế hoạt động để vừa phù hợp với nền kinh tế thị trường, vừa đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu an sinh và công bằng, tiến bộ xã hội.
Xã hôi hóa y tế là cơ chế có áp dụng các nguyên tắc kinh tế thị trường trong y tế, từ sự thử nghiệm này, qua thực tế thực hiện chúng ta sẽ rút ra được nhiều bài học để có sự điều chỉnh cần thiết để tận dụng những ưu điểm của kinh tế thị trường và hạn chế nhược điểm của cơ chế này trong một lĩnh vực đặc thù như y tế. XHH y tế cũng là cách thức chính phủ thực hiện những định hướng phát triển y tế tư nhân hay các cam kết WTO (Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua thành lập bệnh viện 100% vốn nước ngoài, liên doanh với các đối tác Việt Nam hoặc thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh). Chính sách xã hội hóa y tế cân bằng lại khu vực công - tư, hoàn thiện khu vực y tế công, thúc đẩy sự phát triển của y tế tư nhân. Một thời gian dài trước đây, nhà nước đã thực hiện bao cấp trong y tế mà vắng bóng của thị trường, điều đó để lại sự trì trệ trong các bệnh viện công, người dân được khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí nhưng ở dịch vụ thấp, đây cũng là thời điểm thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực trong phục vụ sự nghiệp y tế.
Hiện nay, nhà nước và thị trường có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực sản xuất và cung cấp dịch vụ y tế. Chính sách xã hội hóa y tế cho phép cân bằng lại giữa nhà nước và thị trường trong ngành y. Khi khu vực tư nhân được phép tham gia vào một số lĩnh vực phù hợp thì y tế công sẽ có điều 9 kiện để tập trung hơn vào những mảng chính như đào tạo nguồn nhân lực y tế, y tế dự phòng, y tế kỹ thuật cao. Các văn bản pháp lý về chính sách xã hội hóa y tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của y tế tư nhân, y tế công thông qua cơ chế tự chủ tài chính, cho phép các bệnh viện thu phí, cung cấp dịch vụ theo yêu cầu hay các hoạt động liên doanh liên kết.
Những hoạt động này mang lại nguồn lực tài chính, vật chất không nhỏ cho các bệnh viện, và là tiền đề cho sự cải tiến cơ cấu tổ chức, hạch toán kế toán để các bệnh viện hoạt động hiệu quả hơn. Chính sách xã hội hóa y tế đảm bảo tính công bằng, hiệu quả trong lĩnh vực y tế.