phần mở đầu và kết luận nội dung của luận văn bao gồm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại, huy động vốn tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn tại Agribank chi nhánh huyện Kim Thành giai đoạn 2011 – 2015 Chƣơng 3: Một số biện pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Agribank chi nhánh huyện Kim Thành giai đoạn 2016 – 2020 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI, HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về Ngân hàng thƣơng m i (NHTM) 1 1 1 Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế. Trong các nƣớc phát triển hầu nhƣ không có một công dân nào là không có quan hệ giao dịch với một Ngân hàng thƣơng mại nhất định nào đó. NHTM đƣợc coi nhƣ là một định chế tài chính quen thuộc trong đời sống kinh tế.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động dịch vụ của Ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con ngƣời. Ở Việt Nam, khái niệm Ngân hàng thƣơng mại đƣợc quy định theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Cụ thể: Theo khoản 3 điều 4 của Luật cũng quy định: “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. theo khoản 2 điều 4 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Và theo khoản 1 điều 4 còn quy định thêm: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.Chức năng của NHTM [2,Tr 8] Ngân hàng thƣơng mại hoạt động với các chức năng chủ yếu sau đây: Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ 5 để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo yêu cầu của khách hàng. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vai trò là trung gian thanh toán. Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể trong nền kinh tế có nhiều hạn chế đó là rủi ro phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế. Trƣớc hết thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lƣu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán nhanh chóng và thuận tiện nhƣ: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán, thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ,… cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán mà theo họ là hiệu quả và an toàn nhất. Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lƣu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội.
Mặt khác, chức năng này còn góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán làm tăng uy tín của ngân hàng và tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút nguồn vốn tiền gửi. Chu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM nên các NHTM không ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ để nâng cao chất lƣợng thanh toán đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng tốt hơn. Chức năng làm trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản và đặc trƣng nhất của NHTM, chức năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngân hàng làm chức năng trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời thiếu vốn”.
Nói cách khác, ngân hàng sau khi huy 6 động đƣợc các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế sẽ hình thành nên quỹ cho vay của ngân hàng và sẽ sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ thể trong nền kinh tế. Với chức năng này ngân hàng đóng vai trò vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. Hay có thể nói: nghiệp vụ tín dụng ngân hàng của NHTM đi vay là để cho vay. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội.
Sở dĩ không phải là một tổ chức nào khác trong nền kinh tế mà lại là ngân hàng đứng ra thực hiện chức năng này vì ngân hàng là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng, họ có đầy đủ kinh nghiệm và sự hiểu biết về tình hình cung cầu tín dụng trong nền kinh tế do vậy họ có thể khắc phục đƣợc những khiếm khuyết của thị trƣờng tài chính đó là sự không khớp nhịp giữa cung cầu tín dụng về thời hạn và số lƣợng tức là thông qua việc thu hút tiền gửi với một số lƣợng lớn ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung cầu tín dụng cả về khối lƣợng vốn cho vay và thời gian cho vay. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo ra lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ là ngƣời gửi tiền, ngân hàng và ngƣời đi vay và đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền Vào cuối thế kỷ XIX, khi mà hệ thống ngân hàng hai cấp đƣợc hình thành trong đó NHTW có nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực tiền tệ, các NHTM thực hiện vai trò kinh doanh tiền tệ. Khi đó, các NHTM thông qua chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng đã tạo ra tiền ghi sổ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM.
Nói cách khác, nhờ hoạt động trên hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt. Các ngân hàng có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn từ một khoản tiền gửi ban đầu, hoặc từ khoản tiền nhận đƣợc từ NHTW thông qua việc cấp tín dụng cho các khách hàng là tổ chức phi ngân hàng. Bất kỳ ngân 7 hàng nào đƣợc phép huy động tiền gửi không kỳ hạn và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng đều có khả năng tạo tiền. Sự kết hợp giữa chức năng trung gian thanh toán và trung gian tín dụng làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo tiền gửi thanh toán.
Từ một khoản tiền gửi ban đầu thông qua làm chức năng trung gian tín dụng ngân hàng sử dụng để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ… tức là ngân hàng đã tạo tiền. Còn ngƣợc lại khi ngân hàng huy động đƣợc số vốn mà chƣa cho vay ngân hàng chƣa hề tạo tiền. Sự tạo tiền của NHTM chỉ xảy ra khi mọi hoạt động kinh doanh của NHTM thực hiện bằng chuyển khoản ghi nợ cho tài khoản này và ghi có cho tài khoản khác có liên quan. Thực hiện chức năng tạo tiền của mình, với việc cho vay không có sự xuất hiện của tiền mặt, các NHTM đã giảm đƣợc khối lƣợng tiền mặt trong lƣu thông, tiết kiệm đƣợc chi phí, giúp điều tiết lƣợng tiền cung ứng phù hợp chính sách ổn định giá cả, tăng trƣởng kinh tế, giảm thất nghiệp, làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế đáp ứng nhu cầu chi trả của xã hội.
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời, khi NHTM thực hiện tốt chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng qui mô hoạt động của ngân hàng. Vai trò của NHTM Ngân hàng thƣơng mại hoạt động với các vai trò cụ thể sau: Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế 8 Vốn đƣợc tạo ra từ quá trình tích lũy, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp (DN) và nhà nƣớc trong nền kinh tế. Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ tiêu dùng hợp lý.
Mặt khác, khi nền kinh tế càng phát triển sẽ càng tạo ra nhiều nguồn vốn, điều đó sẽ có tác động tích cực đến hoạt động của ngân hàng (NH). NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh (SXKD) Ngân hàng là đầu mối giữa các doanh nghiệp với thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan nhƣ quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất dựa trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trƣờng. Nguồn vốn tín dụng của NH cung ứng cho DN đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng mọi mặt của quá trình SXKD, đáp ứng nhu cầu thị trƣờng và từ đó tạo cho DN chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh. Ngân hàng là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trƣờng, NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một công cụ để nhà nƣớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lƣợng tiền cung ứng trog lƣu thông.