MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Xã hội ngày càng phát triển thì đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người ngày càng được cải thiện, nhu cầu giải trí của con người ngày càng nâng cao. Chó là con vật thông minh, trung thành, rất mến chủ. Nhờ vậy, chó không chỉ đơn thuần là những vật nuôi thông thường mà trở thành thú cưng, là bạn, l thành viên trong gia đình của con người. Chó là một trong những động vật đầu tiên được con người thuần hóa, loài vật này đã trở thành bạn đồng hành của chúng ta trong hàng nghìn năm qua.
Thậm chí, nhiều nhà khoa học đã tìm ra những lý do để mỗi hộ gia đình nên nuôi một con chó. Người nuôi chó sẽ trở nên thân thiện hơn, năng động hơn, có nhiều mục đích sống hơn. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi chó, chó vốn bị mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa, bệnh ngoại khoa và bệnh sản khoa. Xuất phát từ sự yêu thích động vật và tinh thần muốn tìm hiểu, học hỏi những biện pháp, kỹ thuật ngoại khoa can thiệp khi chó đẻ khó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực hiện một số biện pháp can thiệp lấy thai trên chó cảnh tại phòng khám Petcare Đông Anh’’.2 Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát thực trạng những ca chó đẻ khó tại phòng khám Petcare Đông Anh.
Tìm ra được biện pháp hiệu quả, an toàn để can thiệp lấy thai trên chó.3 Yêu cầu của chuyên đề Nắm được các biện pháp lấy thai trên chó cảnh tại cơ sở thực tập. Nắm được các biện pháp can thiệp dẻ khó trên chó cảnh và các triệu chứng lâm sàng khi chó đẻ khó h 2 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập Phòng khám PETCARE Đông Anh được xây dựng trên địa bàn thị trấn Đông Anh thành phố Hà Nội với diện tích 250m2 và được chủ phòng khám trang bị các trang thiết bị vật tư hiện đại để phục vụ cho việc thăm khám chẩn đoán và điều trị bệnh cho các con vật đặc biệt là các loại thú cưng 2.1 Thuận lợ và khó khăn của cơ sở Thuận lợi Phòng khám được xây dựng tại nơi có đông dân cư và là nơi tập trung nhiều hộ dân có sở thích nuôi thú cưng. Được xây dưng giáp vưới trục quốc lộ 3 thuần tiện cho việc giao thông đi lại và vận chuyển bệnh súc.
Chủ cơ sở năng động nhiệt tình chịu khó và giàu kinh nghiệm nên đây là một thế mạnh của phòng khám. Khó khăn Do điều kiện kinh tế của chủ cơ sở còn hạn hẹp nê việc đầu tư thêm một số trang thiết bị hiện đại còn gặp nhiều khó khăn 2.2 Cơ sở khoa học của đề tài.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái Các cơ quan của bộ máy sinh dục chó cái bao gồm: Hình 2.1: Cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái h 3 2. Noãn sào hay buồng trứng Chức năng: Là nơi tạo noãn và sản xuất kích thích tố. Hình thái: Có hai noãn sào, hình hạt đậu, nằm hai bên của xoang bụng, là nơi sản xuất trứng, tổng hợp và phân tiết hormone sinh dục cái.
Mặt ngoài của noãn sào tròn lồi, mặt trong là đường đi vào của các mạch máu, dây thần kinh, gọi là thể noãn. Đầu trước liên hệ với đầu tua của ống dẫn trứng. Đầu sau hay đầu ống dẫn trứng liên kết với ống dẫn trứng nhờ vào “dây noãn sào”. Noãn sào dính với thắt lưng nhờ vào phần trước của dây rộng tử cung, phần này gọi riêng là màng treo noãn sào và dây noãn ở phía sau.
Cấu trúc: - Phần lớn noãn sào được lớp màng bụng bao phủ, ở mặt trong, nơi mạch máu và thần kinh đi vào gọi là thể noãn, chỗ này không có màng bụng bao phủ tới. - Mô liên kết tạo nên sườn của noãn sào. Xen kẽ với hệ thống mô liên kết này có nhiều nang noãn chứa noãn ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Các noãn còn non được bao quanh bởi một nang dày, gồm nhiều lớp tế bào.
Noãn chính hay noãn trưởng thành có kích thước lớn, lớp bao bên ngoài mỏng dần do các lớp tế bào tiêu biến đi và có chứa một lượng dịch nhất định. Noãn bào chín gọi là nang Graaf và trồi lên bề mặt của noãn sào, có thể thấy được bằng mắt thường. Khi nang Graaf vỡ, sẽ phóng thích noãn gọi là sự rụng trứng. Khi nang noãn vỡ, xoang của nang sẽ đọng máu gọi là hồng thể.
Sau đó, lớp tế bào của nang phát triển và tích nhiều mô mỡ gọi là thể vàng hay hoàng thể. Nếu có sự thụ thai, hoàng thể sẽ phát triển rất lớn và tồn tại lâu, nếu không có sự thụ thai, hoàng thể sẽ teo dần và cuối cùng tạo thành một sẹo gọi là bạch thể.2 Ống dẫn trứng Chức năng: vận chuyển giao tử (noãn, tinh trùng) và là nơi thụ tinh. Hình thái - Ống dẫn trứng là ống ngoằn ngoèo, nối chuyển từ buồng trứng đến tử cung. Ở đầu sau, ống dẫn trứng có đường kính nhỏ, nhưng càng về phía noãn h 4 sào càng lớn dần, đến buồng trứng nở rất rộng, bao phủ phần lớn noãn sào, phần mở rộng này gọi là loa vòi hay phễu ống dẫn trứng.
Ở khoảng giữa loa có một nếp gấp thông với một lỗ nhỏ gọi là lỗ bụng vòi. - Trứng rụng sẽ rơi vào phễu, vào ống dẫn trứng và đi tiếp vào tử cung. - Sự thụ tinh xảy ra ở khoảng 1/3 trên của ống dẫn trứng. Cấu tạo của ống dẫn trứng gồm 3 lớp - Lớp áo trơn bên ngoài, dính trực tiếp với màng treo ống dẫn trứng.
- Lớp cơ gồm hai lớp: cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong. - Lớp niêm mạc trong cùng có nhiều nếp gấp, cấu tạo bằng những tế bào trụ có tiêm mao, các tiêm mao có chức năng hướng trứng về phía tử cung.3 Tử cung Chức năng - Thân tử cung và cổ tử cung giữ và nuôi dưỡng phôi thai. - Cổ tử cung: ngừa vi sinh vật xâm nhập vào tử cung và dự trữ tạm thời và nuôi dưỡng tinh trùng. Hình thái: tử cung là một ống cơ rỗng, nằm phần lớn trong xoang bụng, phần sau nằm trong xoang chậu chia làm 3 phần: - Sừng tử cung: gồm 2 sừng cho 2 ống dẫn trứng phía trước, các sừng nằm hoàn toàn trong xoang bụng, các sừng thường bị ép sát vào thành bụng, các sừng nhỏ ở phía trước và thường rộng dần về phía sau.
- Thân tử cung: nằm một phần trong xoang bụng, một phần trong xoang chậu, đường kính lớn hơn sừng nhưng ngắn hơn. Thân là nơi tiếp nhận ai sừng, mặt trên tiếp giáp với trực tràng, mặt dưới với bàng quang. - Cổ tử cung: là phần hẹp ở phần sau, nhưng có thành rất dày, cổ tử cung nối với âm đạo. Cấu tạo: Từ ngoài vào trong, tử cung cấu tạo gồm 3 lớp - Lớp áo trơn: liên tục với dây rộng tử cung.
- Lớp cơ: là cơ trơn gồm cơ dọc ở ngoài mỏng và cơ vòng ở trong dày hơn. h 5 Giữa hai lớp cơ có một mô liên lết chứa rất nhiều mạch máu. Áo cơ dày nhất ở cổ tử cung. - Lớp niêm mạc có màu hồng, với nhiều tế bào tiết dịch nhầy và có lông mao, khi cơ hoạt động các tiêm mao đẩy dịch nhờn về phía sau.
Sự cố định: hai màng treo tử cung hay màng rộng ở hai bên, liên kết tử cung với thành trên của xoang bụng và xoang chậu. Trên dây rộng này có chứa rất nhiều mạch máu và thần kinh. Dây tròn xuất phát ở cạnh dưới sừng tử cung, đến nối với đáy thành bụng chỗ vòng bẹn sau của kênh bẹn. Âm đạo Phần nối tiếp phía sau của cổ tử cung, nằm hoàn toàn trong xoang chậu, cũng là một ống cơ, tiết diện có thể dãn nở rất lớn.
Nếu nhìn từ phía ngoài thì rất khó phân biệt ranh giới giữa âm đạo và tử cung. Phía trên âm đạo tiếp xúc với trực tràng, phía dưới với bàng quang và ống thoát tiểu. Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp - Áo trơn ở bên ngoài, gồm phần lớn là mô liên kết đàn hồi, phía trước được phần sau màng bụng bao phủ. - Áo cơ gồm 2 lớp: cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong.
- Lớp niêm mạc có nhiều nếp gấp dọc, nhờ đó âm đạo có thể tăng đường kính rất lớn. Tiền đình Là giới hạn của phần cuối âm đạo và âm hộ phía sau. Phía trước tiền đình có một nếp gấp gọi là màng trinh. Sau màng này phía dưới có lỗ mở ra của ống thoát tiểu, hai bên ống thoát tiểu có hai thể xốp, chứa nhiều mạch máu và có thể cương lên như dương vật.
Âm hộ Là cửa sau của cơ quan sinh dục cái, nằm dưới hậu môn, bên ngoài là lớp da chứa sắc tố. Cửa mở của âm hộ có hình bầu dục, hai bên là hai môi. Mép dưới âm hộ có một thể tròn, nằm trong 1 xoang nhỏ đó là âm vật.7 Nhũ tuyến Có nguồn gốc là tuyến da, hoạt động liên hệ chặt chẽ với cơ quan sinh dục. Tuyến vú của thú có thể trải dài từ ngực đến bẹn.
Mỗi tuyến vú là sự tập hợp của 10 - 15 tuyến nhỏ (có ống tiết riêng biệt), nằm xen trong mô liên kết với vú. Có khoảng từ 4 đôi tuyến vú từ ngực đến bẹn, mỗi núm vú có từ 8 – 12 bể sữa. Bên ngoài của một tuyến vú có hình nón, đáy liên kết với thành bụng, đỉnh hướng xuống dưới và tận cùng bằng núm vú. Núm vú là nơi thông ra ngoài của tuyến vú.
Lớp mô liên kết của nhũ tuyến bám chặt vào dưới thành bụng, ăn sâu vào vú và chia thành nhiều thùy. Mô tuyến ở bên trong có màu vàng hay màu hồng xám. Các chùm tuyến sẽ có ống thông với một xoang rộng ở phía dưới gọi là xoang sữa hay bể sữa. Bể sữa thông ra ngoài bởi các núm vú.
Máu đến vú từ động mạch thẹn sau đó theo các tĩnh mạch thẹn rồi đổ về tĩnh mạch chủ sau. Ngoài ra, tuyến vú còn có sự chi phối của các mạch máu vùng ngực và bụng. Chu kì động dục của chó cái Theo Trần Thị Dân (2006)[2] tuổi thành thục hoặc tuổi trưởng thành sinh dục trên thú cái là tuổi bắt đầu động dục hay tuổi bắt đầu xuất noãn, hoặc khi chó cái mang thai nhưng không ảnh hưởng xấu đến chó. Tuổi thành thục lần đầu khi chó được 6 - 12 tháng tuổi tùy theo từng cá thể, tùy theo giống.