Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG 1. Các khái niệm cơ bản Văn hóa Từ khi trở thành thuật ngữ khoa học vào thế kỷ XIX, khái niệm “văn hoá” (culture) đã được các nhà dân tộc học, nhân học, ngôn ngữ học, văn hoá học… định nghĩa nhiều lần. Điểm tương đồng của nhiều định nghĩa trong số đó là dùng cách liệt kê những bộ phận, yếu tố hợp thành ngoại diên của khái niệm văn hoá.
Chẳng hạn, trong ngành dân tộc học, Sir Edward Burnett Tylor (1832- 1917), người sáng lập nhân học xã hội Anh, đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về văn hoá theo cách đó: “Văn hóa hoặc văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, là cái toàn thể phức hợp bao gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và các năng lực hoặc tập tục khác do con người thụ đắc với tư cách thành viên xã hội” Edward Sapir (1884-1939), một trong những người sáng lập chuyên ngành ngôn ngữ học nhân học, cũng đề cập đến văn hoá qua ngoại diên của nó: “Văn hoá, nghĩa là sự tập hợp những phong tục và tín ngưỡng có tính kế thừa trong xã hội, quy định các sinh hoạt của đời sống chúng ta” Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp tại Venise năm 1970 cũng xác định: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” 18 Ở Việt Nam, vào năm 1942-1943, Hồ Chí Minh (1890-1969), danh nhân văn hoá thế giới của Việt Nam, cũng ghi lại trong tác phẩm Nhật ký trong tù một định nghĩa về văn hoá theo cách đó, nhưng chi tiết hơn nhiều: “Ý nghĩa của văn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những định nghĩa theo cách liệt kê như vậy làm cho người ta khó hình dung văn hoá như một chỉnh thể thống nhất. Tuy nhiên, những định nghĩa ấy đã giúp chỉ ra những biểu hiện cụ thể của một khái niệm quá rộng lớn và trừu tượng như văn hoá, và giúp cho nhân loại ngày càng hiểu về khái niệm văn hoá một cách chính xác hơn.
Đó là khái niệm văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả những hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần có tính sáng tạo của con người, được con người lĩnh hội, kế thừa và tuân thủ trong sinh hoạt, giúp phân biệt con người với tự nhiên, và phân biệt tộc người này với tộc người khác, cộng đồng người này với cộng đồng người khác. Nhiều định nghĩa về văn hoá, như các định nghĩa trên đây, không đề cập đến tính hệ thống của văn hoá. Ở Việt Nam, một trong những người vận dụng sớm cách tiếp cận hệ thống, phối hợp với cách tiếp cận địa văn hoá để nghiên cứu văn hoá Việt Nam là Trần Quốc Vượng. Trong công trình Việt Nam cái nhìn địa văn hoá (1998), ông viết: “Một vùng văn hoá là một tổng thể - hệ thống một không gian văn hoá (cultural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure - system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (Sub-system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-analysis)”.
19 Một nhà nghiên cứu khác là Trần Ngọc Thêm cũng sớm vận dụng cách tiếp cận hệ thống để nghiên cứu văn hoá Việt Nam, nhưng đi xa hơn Trần Quốc Vượng. Trong các công trình Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Cái nhìn hệ thống - loại hình (in lần thứ 4, 2004), Cơ sở văn hoá Việt Nam (tái bản lần thứ 2, 1999), ông định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. Từ cách hiểu đó, ông cho rằng văn hoá là một hệ thống được quy định bởi một loại hình văn hoá nhất định, và bao gồm ba thành tố là văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức, văn hoá ứng xử.
- Văn hoá nhận thức: xét theo đối tượng thì bao gồm nhận thức về vũ trụ (chuyển động của vũ trụ, thời tiết…) và nhận thức về con người (bản tính, cơ thể con người, phong tục…); còn xét theo mức độ thì bao gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu và nhận thức cảm tính. - Văn hoá tổ chức cộng đồng: xét theo đối tượng tổ chức thì bao gồm văn hoá tổ chức đời sống tập thể (nông thôn, quốc gia, đô thị) và văn hoá tổ chức đời sống cá nhân (tín ngưỡng, phong tục, giao tiếp). - Văn hoá ứng xử: xét theo đối tượng ứng xử thì bao gồm ứng xử với môi trường tự nhiên (tận dụng môi trường, ứng phó với môi trường) và ứng xử với môi trường xã hội (giao lưu và tiếp biến văn hoá, ứng phó với các dân tộc về quân sự, chính trị, ngoại giao…). Nhìn dưới góc độ là một hệ thống hệ thống các giá trị, niềm tin và quan điểm được chia sẻ và truyền thụ, có ảnh hưởng tới và định hình nhận thức và hành vi của các thành viên, văn hóa có các đặc điểm sau: - Truyền thụ / học: Nó không phải do di truyền sinh học và được truyền lại và tiếp nhận giữa các thế hệ.
20 - Được chia sẻ giữa các thành viên của xã hội / nền văn hóa đó. Không một cá nhân đơn lẻ nào có thể xây dựng được cả nền văn hóa. - Khuôn mẫu: Các thành viên của cùng một xã hội tư duy và sống theo những khuân mẫu nhất định. - Được cộng đồng xây dựng: Tất cả thành viên của xã hội tham gia vào xây dựng văn hóa thông quá quá trình tương tác với các thành viên khác.
- Có tính biểu tượng: văn hóa, tư tưởng, và ngôn ngữ được xây dựng dựa trên các biểu tượng và ý nghĩa đi kèm. - Phi tự nhiên / Nhân tạo: không phụ thuộc vào các quy luật tự nhiên, ngược lại do con người, với tư cách là thành viên xã hội xây dựng. Biến đổi văn hóa Các lý thuyết về biến đổi văn hóa được hình thành dựa trên lý thuyết biến đổi xã hội được các học giả phương Tây xây dựng trong ngành nhân học và xã hội học, ở đó biến đổi xã hội là một quá trình qua đó các khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian. Với quan điểm này, văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, cũng không ngừng tự biến đổi và sự ổn định chỉ là bề ngoài.
Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù có cổ truyền và bảo thủ đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi, giống như các hiện thực khách quan khác, không ngừng vận động và thay đổi, với cùng một thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục. Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội; với những khác biệt về phạm vi, thời gian và hiệu quả. Đó là một quá trình mang tính chủ động của các lực lượng trong xã hội hay mang tính phi kế hoạch, có nghĩa đó là một tiến trình tự nhiên, khách 21 quan. Thường có sự phân chia giữa biến đổi vĩ mô và vi mô, để chỉ những tầm mức biến đổi khác nhau trong đời sống xã hội.
Các nhà nhân học và xã hội học khi xem xét đến sự phát triển xã hội, đã đưa ra một số lý thuyết nhằm lý giải nguyên nhân biến đổi xã hội và dự đoán những biến đổi sẽ diễn ra trong tương lai. Một số cách tiếp cận chủ yếu về biến đổi xã hội thường được xem xét đến là: - Cách tiếp cận chu kỳ: trong lịch sử, sự hiểu biết về chu kỳ của những biến đổi xã hội đã ăn sâu vào nhận thức của con người. Nhân loại hiểu rằng, lịch sử được lặp lại mãi trong những chu kỳ không bao giờ kết thúc. Các nhà khoa học và sử học trước đây nhìn chung đều phản đối những tư tưởng này.
Mặc dù họ đều cho rằng mọi xã hội đều có chu kỳ sống của nó, và mỗi xã hội được sinh ra, trưởng thành rồi sau đó biến mất. - Các quan điểm tiến hóa: với hai mô hình kinh điển và quan điểm tiến hóa mới. Mô hình kinh điển được lấy từ sinh học, theo đó nhiều nhà xã hội học cũng tán thành với lý thuyết phổ biến được gọi là sự tiến hóa một chiều, sự tiến hóa theo lộ trình dọc, chỉ tiến về phía trước chứ không lùi hoặc đi người về phía sau. Và tất cả các hình thức sống, tất cả các xã hội đều tiến hóa từ những hình thức đơn giản đến phức tạp, hình thức sau sâu xa hơn hình thức trước.
Các lý thuyết về tiến hóa mới hiểu biết về các xã hội khác nhau tùy thuộc vào sự phức tạp của xã hội và qua thời gian một khuynh hướng chung đi đến sự khác biệt xã hội ( kinh tế, gia đình, tôn giáo, chính trị…) trở thành sự phân chia và khác biệt giữa các thành phần trong một xã hội tổng thể. Không giống như các nghiên cứu lý thuyết tiến hóa ở thế kỷ XIX, các nhà lý thuyết tiến hóa mới không mô tả hình thức xã hội ở dạng tuyệt đối, cũng không khẳng định, các xã hội không thể tiến hóa tới một vài thực trạng cao hơn. 22 - Quan điểm xung đột: học giả tiêu biểu là Karl Marx, cho rằng các xã hội phải chuyển đổi để tồn tại và ông nhấn mạnh rằng, kinh tế phục vụ như là sự thành lập cho trật tự xã hội. Được xếp vào các nhà lý thuyết theo chủ nghĩa xung đột đối kháng, Marx đã triển khai một lý thuyết xung đột tiến hóa về sự biến đổi xã hội.