Mở đầu bao gồm bối cảnh và lý do chọn đề tài. Qua đó, các câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra và từ đó xây dựng mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của đề tài. Chƣơng 1 (Tổng quan tài liệu) cung cấp tài liệu về những vấn đề có liên quan, cụ thể là tác động của BĐKH, mối liên hệ giữa BĐKH và biến đổi lƣợng mƣa, vai trò của thu, quản lý nƣớc mƣa trong sản xuất nông nghiệp dựa vào nƣớc mƣa và thích ứng với biến đổi khí hâụ. Những thách thức trong sản xuất nông nghiệp dựa vào nƣớc vùng khô hạn trong điều kiện BĐKH.
Chƣơng 2 (Phƣơng pháp) xác định khái niệm, phƣơng pháp tiếp cận, và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3 (Kết quả và thảo luận) trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận sâu về các xu thế biến đổi các đặc trƣơng lƣợng mƣa, những ảnh hƣởng của biến đổi đó đến hoạt động trồng trọt. Các hoạt động thích ứng của ngƣời nông dân và cộng đồng đối với những ảnh hƣởng của sự thiếu hụt lƣợng mƣa đến hoạt động trồng trọt. Những khó khăn và thách thức đối với hoạt động trồng trọt trong điều kiện BĐKH.
Kết luận và khuyến nghị bao gồm tóm tắt các thông tin chính của báo cáo và đƣa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cƣờng các hoạt động thích ứng trong tƣơng lai. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Biến đổi khí hậu tại Việt Nam Việt Nam là một trong số những quốc gia dễ bị tổn thƣơng nhất trƣớc các tác động của BĐKH trên toàn cầu (Dasgupta và cs.
Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình hàng năm của Việt Nam đã tăng khoảng 0,5 0C, xu thế chung của nhiệt độ là tăng hầu hết các khu vực. Lƣợng mƣa mùa khô (tháng 11- 4) tăng nhẹ hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam. Lƣợng mƣa mùa mƣa (tháng 5 – 10) giảm từ 5 đến hơn 10 % trên đa phần diện tích phía Bắc nƣớc ta và tăng khoảng 5 – 20 % ở các vùng khí hậu phía Nam. Về xoáy thuận nhiệt đới, trung bình hàng năm có khoảng 12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông.
Số cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hƣởng đến Việt Nam vào khoảng 7 cơn mỗi năm và trong đó có 5 cơn đổ bộ hoặc ảnh hƣởng trực tiếp đến đất liền. Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhƣng với mức độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí hậu, trong khi đó xu thế biến đổi trung bình của mực nƣớc biển dọc theo bờ biển Việt Nam là khoảng 2,8 mm/năm (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016). Các hiện tƣợng El-Nino, La-Nina đã gây ra những tác động ngày càng bất lợi cho Việt Nam. BĐKH đã dẫn đến xuất hiện các hiện tƣợng thời tiết và khí hậu cực đoan nhƣ bão, lũ lụt, mƣa lớn, nắng nóng, hạn hán thƣờng xuyên và trở nên khắc nghiệt hơn ở Việt Nam (IMHEN và UNDP, 2015).
Theo kịch bản BĐKH, nƣớc biển dâng cho Việt Nam, kịch bản RCP 4.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,6 ÷ 0,8 0C. Vào giữa thế kỷ, mức tăng từ 1,3 ÷ 1,7 0C. Trong đó, khu vực Bắc Bộ (Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ) có mức tăng từ 1,6 ÷ 1,7 0C; khu vực Bắc Trung Bộ từ 1,5 ÷ 1,6 0C; khu vực phía Nam (Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ) từ 1,3 ÷ 1,4 0C. Đến cuối thế kỷ, ở phía Bắc nhiệt độ tăng chủ yếu từ 1,9 ÷ 2,4 0C và ở phía Nam từ 1,7 ÷ 1,9 0C.
Theo kịch bản RCP 8.5, vào đầu thế kỷ, nhiệt độ trung bình năm trên toàn quốc có mức tăng phổ biến từ 0,8 ÷ 1,1 0C. Vào giữa thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 1,8 ÷ 2,3 0C. Trong đó, khu vực phía Bắc tăng phổ biến từ 2,0 ÷ 2,3 0C và ở phía Nam từ 1,8 ÷ 1,9 0C. Đến cuối thế kỷ, nhiệt độ ở phía Bắc tăng từ 3,3 ÷ 4,0 0C và ở phía Nam từ 3,0 ÷ 3,5 0C.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lƣợng mƣa năm, theo kịch bản RCP 4.5, vào đầu thế kỷ, lƣợng mƣa năm có xu thế tăng ở hầu hết cả nƣớc, phổ biến từ 5 ÷ 10 %. Vào giữa thế kỷ, mức tăng phổ biến từ 5 ÷ 15 %. Một số tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ có thể tăng trên 20 %. Đến cuối thế kỷ, mức biến đổi lƣợng mƣa năm có phân bố tƣơng tự nhƣ giữa thế kỷ, tuy nhiên vùng có mức tăng trên 20 % mở rộng hơn.
Theo kịch bản RCP 8.5, vào đầu thế kỷ, lƣợng mƣa năm có xu thế tăng ở hầu hết cả nƣớc, phổ biến từ 3 ÷ 10 %. Vào giữa thế kỷ, xu thế tăng tƣơng tự nhƣ kịch bản RCP 4. Đáng chú ý là vào cuối thế kỷ mức tăng nhiều nhất có thể trên 20 % ở hầu hết diện tích Bắc Bộ, Trung Trung Bộ, một phần diện tích Nam Bộ và Tây Nguyên (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016). Theo kịch bản nƣớc biển dâng khu vực ven biển và hải đảo Việt Nam cho thấy rằng, trong khoảng đầu thế kỷ 21, xu thế tăng của mực nƣớc biển dâng theo cả 4 kịch bản RCP không có sự khác biệt nhiều.
Đến năm 2030, mực nƣớc biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam theo RCP 2.6 là 13 cm (8 cm ÷ 18 cm), theo RCP 4.5 là 13 cm (8 cm ÷ 18 cm), theo RCP 6.0 là 13 cm (8 cm ÷ 18 cm) và theo RCP 8. Trong khoảng giữa thế kỷ 21, đã bắt đầu có sự khác biệt về xu thế tăng của mực nƣớc biển. Đến năm 2050, mực nƣớc biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam theo kịch bản RCP 2.6 là 21 cm (13 cm ÷ 32 cm), theo RCP 4.5 là 22 cm (14 cm ÷ 32 cm), theo RCP 6.0 là 22 cm (14 cm ÷ 32 cm) và theo RCP 8. Đến cuối thế kỷ 21, sự khác biệt về xu thế tăng của mực nƣớc biển theo các kịch bản là rất rõ rệt.
Đến năm 2100, mực nƣớc biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam theo kịch bản RCP2.6 là 44 cm (27 cm ÷ 66 cm), theo RCP 4.5 là 53 cm (32 cm ÷ 76 cm), theo RCP 6.0 là 56 cm (37 cm ÷ 81 cm) và theo RCP 8. Theo Nguyễn Văn Thắng và cs. (2015), sự gia tăng của các hiện tƣợng khí hậu khắc nghiệt, cực đoan chính là thách thức lớn nhất với Việt Nam trong ứng phó với BĐKH. Kịch bản biến đổi một số hiện tƣợng cực đoan tại Việt Nam, theo kịch bản RCP 8.5, vào cuối thế kỷ bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động và ảnh hƣởng đến Việt Nam có khả năng giảm về tần suất.
Với kịch bản RCP 4.5, mô hình PRECIS cho kết quả dự tính số lƣợng bão và áp thấp nhiệt đới có xu thế ít biến đổi. Nếu phân chia cấp độ, số lƣợng bão yếu và trung bình có xu thế giảm trong khi số lƣợng bão mạnh đến rất mạnh lại có xu thế tăng rõ rệt (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về hiện tƣợng rét đậm, rét hại, theo kịch bản RCP 4.5, vào giữa thế kỷ, số ngày rét đậm (số ngày có nhiệt độ thấp nhất Tn ≤ 15 °C), số ngày rét hại (số ngày có nhiệt độ thấp nhất Tn ≤ 13 °C) có xu thế giảm ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, phổ biến 5÷10 ngày so với thời kỳ cơ sở, giảm nhiều nhất trên 15 ngày ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc, ít nhất dƣới 5 ngày ở Bắc Trung Bộ. Đến cuối thế kỷ, số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm phổ biến từ 10 -20 ngày, giảm nhiều nhất ở một số trạm thuộc Tây Bắc, Đông Bắc (trên 20 ngày), ít nhất dƣới 10 ngày ở một số trạm thuộc Bắc Trung Bộ (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016).
Hiện tƣợng nắng nóng, theo kịch bản RCP4.5, vào giữa thế kỷ số ngày nắng nóng (số ngày nhiệt độ cao nhất Tx ≥ 35 0C) có xu thế tăng trên phần lớn cả nƣớc, phổ biến 25÷35 ngày so với thời kỳ cơ sở, tăng nhiều nhất (đến 40 ngày) ở Nam Trung Bộ, ít nhất (dƣới 20 ngày) ở Tây Nguyên và Nam Bộ. Đến cuối thế kỷ, số ngày nắng nóng tăng nhiều nhất (trên 50 ngày) ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, tăng ít nhất ở phần lớn Tây Nguyên và Nam Bộ (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2016). Các đợt hạn nặng đã xuất hiện nhiều hơn ở nhiều nơi trên lãnh thổ nƣớc ta, trong đó tần suất hạn cao chủ yếu tập trung xảy ra vào các tháng thuộc vụ Đông Xuân (từ tháng 1 đến tháng 4) và vụ hè thu (từ tháng 5 đến tháng 8). Hiện tƣợng mƣa lớn diện rộng có xu thế tăng mạnh.
Số ngày mƣa lớn có xu thế giảm trên các vùng khí hậu phía Bắc và tăng nhẹ ở Nam Bộ; tăng khá mạnh ở Trung Nam Bộ và Tây Nguyên. Lũ lụt ở nƣớc ta xuất hiện ngày một thƣờng xuyên hơn, bất bình thƣờng hơn, và gây tác động ngày càng rộng lớn hơn (Nguyễn Văn Thắng và cs. Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam Theo Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012) trong những năm qua, dƣới tác động của BĐKH, tần suất và cƣờng độ của thiên tai ngày càng gia tăng ở Việt Nam, gây ra nhiều tổn thất to lớn về ngƣời, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội và các tác động xấu về môi trƣờng. Từ năm 1953 đến năm 2010, gần 25.000 ngƣời đã thiệt mạng trong các đợt thiên tai và 77 triệu ngƣời bị ảnh hƣởng.
Tổng thiệt hại ƣớc tính vào khoảng hơn 7 tỷ USD. Trong các thiên tai, Việt Nam chịu thiệt hại nhiều nhất bởi xoáy thuận nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán và trƣợt lở đất đá. Theo Nicholls và cs. (2007) có hơn 80 cơn bão đã vào Việt Nam từ năm 1953 đến 2010 và đã làm 19.000 ngƣời thiệt mạng và khoảng 45 triệu ngƣời bị ảnh hƣởng.
Các vùng ven biển, đặc biệt 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là ở phía Bắc, bị ảnh hƣởng nhiều nhất. Lũ lụt cũng đƣợc xem là loại thiên tai nguy hiểm thứ hai gây ra các thiệt hại về ngƣời, tài sản và sinh kế. Trong những thập kỷ qua, khoảng 5.