Tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế hộ gia đình tại Bản Công, Trạm Tấu

Luận văn phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế hộ gia đình tại Trạm Tấu, Yên Bái, đề xuất các giải pháp thích ứng thực tiễn.

Chuyên ngành

Biến đổi Khí Hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tình hình biến đổi khí hậu tại huyện Trạm Tấu Yên Bái

Biến đổi khí hậu tại huyện Trạm Tấu đang diễn ra với những thay đổi đáng kể về nhiệt độ và lượng mưa. Theo kịch bản RCP4.5, tỉnh Yên Bái dự kiến sẽ trải qua sự gia tăng nhiệt độ trung bình hàng năm trong những năm tới. Diễn biến khí hậu tại khu vực này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên mà còn tác động trực tiếp đến các loại hình sinh kế nông nghiệp của cộng đồng địa phương. Các hiện tượng thiên tai như rét đậm, rét hại, khô hạn, lũ quét và mưa lớn ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, gây ra những thách thức lớn cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

1.1. Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa

Huyện Trạm Tấu ghi nhận sự biến động rõ ràng trong diễn biến nhiệt độlượng mưa hàng năm. Dữ liệu khí hậu cho thấy xu hướng tăng nhiệt độ kéo dài, kèm theo những thay đổi bất thường trong mô hình mưa. Mùa mưa trở nên không ổn định, vừa có những đợt mưa lớn gây ngập lụt, vừa xuất hiện những khoảng thời gian khô hạn kéo dài.

1.2. Các hiện tượng thiên tai liên quan

Rét đậm, rét hại thường xuất hiện vào mùa đông, gây hại cho cây trồng vật nuôi. Khô hạn mùa hè ảnh hưởng đến tưới tiêu nước cho các loài cây. Lũ, lũ quét từ các cơn mưa lớn gây sạt lở đất và phá hủy kết cấu hạ tầng nông thôn.

II. Sinh kế hộ gia đình tại xã Bản Công

Xã Bản Công, huyện Trạm Tấu là một khu vực nông thôn miền núi với sinh kế chủ yếu dựa trên nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Hộ gia đình tại đây chủ yếu sống bằng trồng lúa, rau, cây lâm nghiệp và nuôi cá, tôm ở các ao hồ. Sinh kế đa dạng giúp hộ gia đình giảm rủi ro từ những biến động của thị trường và khí hậu. Tuy nhiên, đa số hộ còn sử dụng phương pháp sản xuất truyền thống, công nghệ chưa tiên tiến, dẫn đến năng suất thấp và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu hạn chế.

2.1. Nông nghiệp và trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp là hoạt động chính của người dân, với đất nông nghiệp được phân bổ không đều. Ngoài trồng lúa chủ yếu, người dân còn trồng rau, cây lâm nghiệp để tăng thu nhập gia đình. Tuy nhiên, sự biến đổi khí hậu đã làm giảm năng suất, tăng chi phí sản xuất và rủi ro mất mùa.

2.2. Nuôi trồng thủy sản và chế biến

Nuôi trồng thủy sản như cá, tôm ở ao hồ là hoạt động sinh kế phụ quan trọng của hộ gia đình. Sản xuất và chế biến nông sản cũng là nguồn thu nhập bổ sung. Tuy nhiên, chất lượng nước bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu làm giảm năng suất nuôi trồng.

III. Tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh kế

Tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh kế hộ gia đình tại xã Bản Công là rất nghiêm trọng. Rét đậm, rét hại vào mùa đông làm chết cây trồng, giảm sản lượng. Khô hạn mùa hè gây khó khăn cho tưới tiêu, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Lũ, lũ quét gây sạt lở đất, phá hủy ruộng nương và ao nuôi trồng. Mưa lớn đột ngột dẫn đến ngập lụt, làm mất mùa và gây thiệt hại kinh tế. Các hộ gia đình đối mặt với tình trạng mất ổn định sinh kế, giảm thu nhập và suy giảm dinh dưỡng.

3.1. Tác động của các hiện tượng cực đoan

Tác động của rét đậm làm các cây lúa, rau bị chết, giảm năng suất 30-50%. Tác động của khô hạn kéo dài làm cạn nước tưới, hộ gia đình phải thích ứng bằng cách trồng cây chịu hạn hoặc thay đổi cơ cấu cây trồng. Tác động của lũ quét làm sạt lở 15-20% diện tích ruộng, gây mất mùa.

3.2. Ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập

Năng suất nông sản giảm 25-40% do các yếu tố khí hậu bất lợi. Thu nhập hộ gia đình giảm sút, buộc phải tìm công việc làm thêm hoặc lao động xuất khẩu. Nuôi trồng thủy sản cũng bị ảnh hưởng, với tỷ lệ mất cá, tôm cao do nước ô nhiễm, nhiệt độ nước biến động.

IV. Năng lực ứng phó và giải pháp thích ứng

Năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của hộ gia đình tại xã Bản Công còn hạn chế do thiếu kiến thức, công nghệ và nguồn lực tài chính. Nhận thức của hộ gia đình về biến đổi khí hậu đang dần được nâng cao thông qua các chương trình tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật. Một số hộ đã áp dụng các biện pháp thích ứng như đổi giống cây, thay đổi thời gian gieo trồng, xây dựng công trình tưới tiêu. Tuy nhiên, cần thiết phải có sự hỗ trợ chính sách từ chính phủ, tài chính vi mô, chuyển giao công nghệ để nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng địa phương.

4.1. Nhận thức và năng lực thích ứng hiện tại

Nhận thức của hộ gia đình về biến đổi khí hậu và tác động của nó đang từng bước được cải thiện. Năng lực thích ứng vẫn còn yếu, chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống và học hỏi từ láng giềng. Một số hộ đã áp dụng kỹ thuật nông nghiệp hiện đại như trồng lúa sạch, nuôi cá ở ao có độ sâu hợp lý, nhưng tỷ lệ áp dụng còn thấp.

4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng ứng phó

Cần tăng cường đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật cho hộ gia đình về kỹ thuật nông nghiệp thích ứng. Hỗ trợ tài chính để đầu tư công trình tưới tiêu, cải tạo đất. Phát triển hệ thống cảnh báo sớm về thiên tai, khí hậu cực đoan. Khuyến khích thành lập hợp tác xã để tăng sức mạnh collective bargaining và tiếp cận thị trường.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình ngoài nước Từ nhiều năm qua, đã có nhiều nghiên cứu về tác động của BĐKH tới sinh kế của cư dân.

và cộng sự (2007) đã nghiên cứu về hậu quả của BĐKH tới sinh kế của cư dân xung quanh khu vực dãy núi Himalaya, với trọng tâm là các hiện tượng tại vùng núi cao như sông băng, băng vĩnh cửu và tuyết lở; tác động đối với tài nguyên nước, hệ sinh thái và các mối nguy hiểm cùng với đó là những mối đe dọa của chúng tới cư dân tại khu vực. Đánh giá của nhóm tác giả chỉ ra nhu cầu cấp thiết phải của việc nâng cao kiến thức liên quan trong khu vực, cùng với đó là việc phối hợp với các lĩnh vực chính sách quan trọng và chiến lược để cải thiện năng lực thích ứng của các cộng đồng gặp rủi ro. và cộng sự (2010) đã nghiên cứu về tác động của BĐKH tới cộng đồng cư dân có sinh kế dựa vào nghề cá. Nhóm tác giả đã chỉ ra bằng chứng ngày càng nhiều về tác động của biến đổi khí hậu và thay đổi đối với hệ sinh thái dưới nước, nhưng tại thời điểm trên vẫn là một lĩnh vực bị bỏ quên trong chính sách thích ứng với khí hậu.

Tác giả cũng xác định các chiến lược thích ứng hiện tại và tiềm năng, đồng thời khám phá những tác động rộng lớn hơn đối với sinh kế địa phương, quản lý nghề cá và chính sách khí hậu với 05 biện pháp cần thiết để tăng khả năng thích ứng với BĐKH cho cộng đồng cư dân. (2013) cũng đã nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh kế của các cộng đồng địa phương, tập trung vào Quận Matobo ở Zimbabwe. Nghiên cứu đã tìm hiểu và làm rõ các cộng đồng đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi biến đổi khí hậu và cách họ thích nghi với hiện tượng đó, cũng như nhận thức của họ về mức độ nghiêm trọng của hiện tượng biến đổi khí hậu. Nghiên cứu đã chỉ ra biến đổi khí hậu đã làm thay đổi địa lý tự nhiên của khu vực dẫn đến sự biến mất của hệ động thực vật và môi trường sống tự nhiên khác vốn là sinh kế của người dân địa phương; bên cạnh đó lượng mưa giảm và nhiệt độ tăng đang khiến việc canh tác ngày càng trở nên khó 5 khăn hơn và do đó làm trầm trọng thêm tình trạng mất an ninh lương thực trong khu vực.

Tiếp theo đó, Dube, T. và cộng sự (2016) đã nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh kế dựa vào nông nghiệp trên khắp lục địa châu Phi, tập trung vào Đông, Tây, Nam Phi và khu vực Sahel. Nghiên cứu phát hiện ra biến đổi khí hậu luôn luôn mang lại các tác động tiêu cực trên toàn bộ Châu Phi do các tác động đó dẫn tới hậu quả giảm mạnh sản lượng nông nghiệp và giảm đa dạng sinh học. Tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường hỗ trợ các chiến lược đa dạng hóa sinh kế trong quy hoạch phát triển nông thôn; đề xuất thêm các chiến lược chính sách đặc biệt hướng tới người nghèo, các cộng đồng dễ bị tổn thương có sinh kế phụ thuộc vào nông nghiệp và các hệ sinh thái tự nhiên vì những cộng đồng này là những cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ tác động của biến đổi khí hậu.

(2014) nghiên cứu đánh giá về tác động của biến đổi khí hậu đối với năng suất nông nghiệp, an ninh lương thực và những thách thức về thể chế của người dân ven biển ở phía tây nam của Bangladesh. Nghiên cứu chỉ ra rằng tần suất và mức độ nghiêm trọng của thiên tai đã tăng lên trong những năm gần đây, đe dọa đến an ninh lương thực bằng cách làm ngập đất nông nghiệp thấp, hạn chế các hoạt động kinh tế, giảm cơ hội việc làm, gia tăng các bệnh sức khỏe khác nhau, phá hủy nhà cửa, mùa màng và các cơ sở hạ tầng khác ở Bangladesh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người dễ bị tổn thương và gặp rủi ro nhất do biến đổi khí hậu gây ra là phụ nữ, trẻ em, người già và người tàn tật vì họ không thể dễ dàng đối phó với môi trường bất lợi trong các thảm họa. (2007) cũng đã nghiên cứu về một số tác động của biến đổi khí hậu đối với cộng đồng dân cư, đặc biệt là đối tượng nông dân “tự cung tự cấp” hay “hộ sản xuất nhỏ”.

Nghiên cứu chỉ ra tính dễ bị tổn thương của họ đối với biến đổi khí hậu xuất phát từ việc vị trí địa lý chủ yếu nằm ở vùng nhiệt đới và tới từ các xu hướng chính sách, nhân khẩu học và kinh tế xã hội khác nhau đã hạn chế khả năng thích ứng của họ. Tác giả cũng đánh giá rằng những tác động này sẽ khó mô hình hóa hoặc dự đoán do thiếu các định nghĩa chuẩn hóa về các loại hệ thống canh tác này và do đó dẫn tới việc thiếu dữ liệu tiêu chuẩn ở cấp quốc gia. Nghiên cứu đã xem xét các hành động có liên quan tới các hệ thống canh tác và đề xuất được những giải pháp góp phần không chỉ nâng cao 6 kiến thức về các tác động, mà còn quan trọng là hỗ trợ xây dựng năng lực thích ứng ở tất cả các cấp bao gồm cả bản thân người nông dân. Mamathalakshmi và cộng sự (2022) đã tìm hiểu về các yếu tố chịu trách nhiệm cho an ninh sinh kế của những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Karnataka, Ấn Độ.

Nhóm tác giả đã chỉ ra thực trạng rằng lao động nông nghiệp cho đến nay vẫn là bộ phận lao động lớn nhất trong những khu vực không được tổ chức bài bản. Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh tình trạng an ninh sinh kế của lao động nông nghiệp trong các hoàn cảnh nông nghiệp khác nhau, từ đó biết được mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến tình trạng an ninh sinh kế của lao động nông nghiệp và xác định các yếu tố phân biệt đối xử ảnh hưởng đến tình trạng an ninh sinh kế của lao động nông nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Likert, phương pháp kiểm định hệ số tương quan (r), kiểm định hồi quy tuyến tính đồng hiệu quả (R2) cho ta biết có sự khác biệt đáng kể về tình trạng an ninh sinh kế giữa những người lao động nông nghiệp trong các hoàn cảnh nông nghiệp khác nhau. Giá trị R2 chỉ ra rằng tất cả 29 biến độc lập đã góp phần điều chỉnh 81,40% sự thay đổi trong an ninh sinh kế.

Tổng quan các công trình trong nước Các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong nước cũng đã có nhiều nghiên cứu liên quan tới tác động của biến đổi khí hậu tới sinh kế của người dân. Nguyễn Minh Kỳ (2014) đã nghiên cứu về những tác động và thích ứng của cộng đồng ở Thừa Thiên Huế về biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện nay. Quá trình khảo sát và thu thập mẫu nghiên cứu được tập trung ở cộng đồng ngư dân đầm phá Tam Giang- Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu được xử lý, phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 13.

Nghiên cứu cho thấy dưới những ảnh hưởng của BĐKH cộng đồng ngư dân sinh sống ven đầm phá TG- CH có các hoạt động sinh kế gắn liền với diện tích mặt nước đã có những đánh giá đúng mức về tác hại mà BĐKH đã gây ra đối với đời sống của họ. Cộng đồng cũng đã biết cách thức nhằm thích ứng với những thay đổi của khí hậu bằng việc thường xuyên quan tâm và theo dõi tin tức dự báo thời tiết để phòng tránh và giảm nhẹ các thiệt hại do BĐKH gây ra. Hà Minh Tuân và cộng sự (2014) cũng đã nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Tác giả đã nghiên cứu tài liệu thứ cấp và phỏng vấn, thảo luận nhóm với đại diện của 7 phòng nông nghiệp huyện và đại diện người dân thuộc 3 xã của huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Nghiên cứu cho thấy, Văn Bàn chịu ảnh hưởng khá nặng nề bởi tác động của BĐKH, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Ngoài việc phân tích các sáng kiến và hoạt động thích ứng BĐKH tại địa phương, đề tài đã đưa ra đề xuất áp dụng 5 mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện của địa bàn nghiên cứu và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự. Nguyễn Thị Ngân (2014) đã nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sinh kế người dân tộc thiểu số vùng miền núi phía Bắc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tác đô ̣ng của BĐKH tới trồng trọt thể hiện qua các biểu hiện như mất diện tích canh tác, giảm năng suất, giảm chất lượng nông sản còn tác động tới chăn nuôi làm giảm nguồn thức ăn và gia tăng dịch bệnh vật nuôi, đồng thời các hiện tượng thời tiết cực đoan làm cuố n trôi gia súc, chết hàng loa ̣t.

Kết quả, tác đô ̣ng BĐKH làm sụt giảm ma ̣nh thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi, vố n gần như là nguồn thu nhập chính của người dân. Các giải pháp được nhóm tác giả đưa ra gồm có: Tăng cường lồng ghép nô ̣i dung thích ứng với BĐKH vào công tác lập kế hoa ̣ch phát triển cấp quố c gia/ngành/địa phương và giải pháp hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững ứng phó với BĐKH, cụ thể như (i) ta ̣o dựng môi trường thuận lợi để gia tăng các nguồn lực sinh kế; (ii) tăng cường các hoa ̣t đô ̣ng ta ̣o thu nhập và cải thiện sinh kế hiện ta ̣i; (iii) phát triển các hoa ̣t đô ̣ng sinh kế thay thế hoặc bổ trợ và (iv) ta ̣o dựng môi trường thuận lợi về thể chế và chính sách. Lê Thị Diệu Hiền và cộng sự (2014) đã nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sinh kế của cộng đồng xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index - LVI) để đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế của cộng đồng cư dân.

Số liệu của nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cỡ mẫu là 82 hộ dân đang sinh sống trên địa bàn xã Đất Mũi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ