phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 2 chơng, 4 tiết. 11 NỘI DUNG CHUONG 1. KHAI QUAT VE VAN HOA, ĐỜI SÓNG VĂN HÓA, ĐỜI SÓNG VĂN HÓA TINH THÀN CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN ĐÔNG YÊN 1. Quan niệm về văn hóa, đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tỉnh thần của ngời nông dân 1.
Quan niệm về văn hóa, đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tỉnh thân *Văn hóa Văn hóa ra đời cùng với quá trình lao động, sản xuất của con ngời. Vì vậy, ngay từ thời cổ đại khái niệm văn hóa đã xuất hiện và ngày càng hoàn thiện hơn. Thời kỳ Trung quốc cổ đại “văn hóa” đợc hiểu là “văn trị” và “giáo hóa”, nghĩa là dùng cái hay cái đẹp để cảm hóa, giáo đục con ngời, làm cho trở nên có đạo đức hơn. Thế kỷ thứ IV trớc Công nguyên, Không Tử đã dùng thuật ngữ “hóa” nghĩa là cải biến, biến đổi và thuật ngữ “văn” có nghĩa là những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, trong giao tiếp, ứng xử giữa con ngời với con ngời.
Từ đó, có thể hiểu văn hóa có nghĩa là sự bồi đắp, cải biến, hớng con ngời đến những giá trị tốt đẹp hơn. Văn hóa là khác biệt, văn hóa là đa dạng, văn hóa là hồn cốt của một dân tộc. Nó là tất cả những hoạt động lao động, sáng tạo và cả những gid tri tinh thần đợc sinh ra từ quá trình sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc. Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn với nhiều cách tiếp cận khác nhau, trên nhiều lĩnh vực, nó liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, đời sống tỉnh thần của con ngời và xã hội.
Vì vậy, khái niệm về văn hóa đợc tiếp cận dới nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong tác phâm Những cơ sở triết học của thời đại - cội nguôn của thể kỷ XX Sapovalop đã nhận định rằng văn hóa là một khái niệm không thích hợp với những loại định nghĩa chỉ có một định nghĩa. 12 Tại Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hóa tại Venise năm 1970, F. Mayor nguyên tông giám đốc UNESCO cho rằng: Văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đẳng) trong quá khứ và hiện tại” [46, 798].
Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành trên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thi hiéu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Còn nhà dân tộc văn hóa Anh E. Taylor cho rang: “Văn hóa hoặc văn mình là một chỉnh thể phức hợp bao gỗm trí thức, tín ngỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kì năng lực thói quen nào khác mà con ngời cần có với t cách là mọt thành viên của xã hội ”[46, 798] Chủ nghĩa Mác - Lênin khi đề cập đến vấn đề văn hóa cho rằng con ngời chính là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Theo nghĩa đó văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tỉnh thần do con ngời sáng tạo Ta bằng lao động và hoạt động thực tiễn, văn hóa là sự biểu hiện năng lực bản chất con ngời.
Quá trình nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội loài ngời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã khái quát quá trình hoạt động xã hội cơ bản của xã hội thành hai hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, xét theo hình thái giá trị thì tơng ứng với văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Trong đó, văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con ngời đợc kết tỉnh trong các sản phâm vật chất. Văn hóa tinh thần là những sản phẩm lao động trí óc của con ngời đợc sáng tạo trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Đó là tổng thể các t tong, ly luan và các giá trị đợc sáng tạo trong đời sống tỉnh thần và hoạt dong tinh thần của con ngời đợc biểu hiện đới dạng các hiện tong tinh than.
Van hda tinh thần bao gồm các giá trị trong hoạt động giáo dục, t tởng, tôn giáo, lễ hội,. mối quan hệ giữa con ngời với môi trờng tự nhiên và môi trờng xã hội. Ở Việt Nam, học giả Đào Duy Anh là ngời đầu tiên đa ra khái niệm về văn hóa (năm 1938). Ông cho rằng: “văn hóa là chỉ những học thuật t tỏng.
Có lẽ gì văn hóa của các dân tộc lại khác nhau đến thế? Vì rằng cách 13 sinh hoạt của các dân tộc không giống nhau. Chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lí khiến mỗi dân tộc sinh hoạt ở trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng khác nhau vậy”. Ông còn kh ng định “nghiên cứu xem sự hoạt động để sinh hoạt về các phơng diện của một dân tộc nay chuyển biến thế nào, là nghiên cứu văn hóa lịch sử của dân tộc ấy vay” [1; 10, 11]. Nh vậy, tác giả Đào Duy Anh quan niệm dựa trên những điều kiện khác nhau sẽ tạo nên nên văn hóa không giông nhau.
Kế thừa tất cả những quan điểm đó, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nớc, Đảng cộng sản Việt Nam luôn đề cao vị trí, vai trò của văn hóa. Năm 1943 trong Đề cơng văn hóa Việt Nam, Đảng đã xác định văn hóa là một trong ba mặt trận quan trọng của đất nớc đồng hành cùng kinh tế và chính trị. Đến Nghị Quyết Trung Ương 5, khóa VIII (1998) của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lần đầu tiên văn hóa đợc đề cập đến trên phạm vi rộng lớn. Ngoài văn học, nghệ thuật còn có cả môi trờng văn hóa, xây dựng t tởng đạo đức, lối sống, phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, hệ thống thông tin đại chúng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu số, chính sách văn hóa đối với tôn giáo, hoàn thiện thê chế văn hóa,.
Từ đó Đảng cộng sản Việt Nam đi đến kết luận: văn hóa là nền tang tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm này cho thấy góc độ tiếp cận văn hóa ở bề sâu bởi có những giá trị do chính nó tạo nên. Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nớc và nhân dân còng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Kh ng định những nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống và loại dần những yếu tố không phò hợp nhằm tạo nên những điểm hợp lý cho nhu cầu phát triển kinh tê - xã hội trong điêu kiện đôi mới của đât nóc.
Tính đến nay, có hàng trăm ngàn định nghĩa về văn hóa, các định nghĩa nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhng đều thống nhất khi cho rằng: Văn hóa là một dấu ấn đặc trng cho xã hội loài ngời, khác về cơ bản với tổ 14 chức của xã hội động vật. Mọi văn hóa đều đợc hình thành và phát triển từ các hoạt động lao động, sáng tạo của con ngời trong toàn bộ tiến trình lịch sử của các dân tộc và toàn thể nhân loại. Văn hóa chỉ có ở con ngời và đó là quá trình sáng tạo đặc trng của con ngời, do con ngời và vì con ngời. Văn hóa thờng đợc phân chia thành hai dạng là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, chúng có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau.
Tuy nhiên, cách chia này chỉ mang tính tơng đối. Trong một số trờng hợp văn hóa vật chất là dạng tồn tại, thể hiện, chất chứa trong nó các giá trị văn hóa tinh thần, những giá trị thâm mỹ, tốt đẹp mang đậm cá tính của ngời sáng tạo ra các giá trị tỉnh thần dới cái vỏ bọc của vật chât, ân chứa trong các sản phâm của văn hóa vật chât. Kế thừa tắt cả những quan điểm trên và dựa trên góc độ nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học, trong phạm vi của khóa luận, tác giả đồng tình với quan điểm của Hồ Chí Minh khi kh ng định “Vì lẽ sinh tôn cũng nh mục đích của cuộc sống loài ngời mới sáng tạo và phát mình ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát mình đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phơng thức sinh hoạt còng với biểu hiện của nó mà loài ngời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu câu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tôn” [29; 431]. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về nguồn gốc, phạm vi và sự biểu hiện của văn hóa trong toàn bộ đời sống sinh hoạt của con ngời. Nguồn gốc của văn hóa là do lẽ sinh tồn và mục đích sống của con ngời. Trải qua hàng ngàn năm thích nghi và cải tạo thế giới, những kinh nghiệm mà con ngời có đợc là cơ sở dé hình thành văn hóa.
Với sự khắc nghiệt của môi trờng tự nhiên và tính quy luật nghiêm khắc của môi trờng xã hội buộc con ngời phải có sự sáng tạo, phải lao động để tạo ra các giá trị văn hóa sâu sắc, đậm đà bản sắc dân tộc. 15 *Đời sống văn hóa Từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX, trong các công trình nghiên cứu về văn hóa cụm từ “Đời sống văn hóa” đợc sử dụng tơng đối rộng rãi. Tiền thân của cụm từ này là cụm từ “Đời sống mới”. Đây là tiêu đề của bài viết dới dạng hỏi - đáp của tác giả Tân Sinh - một bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đợc công bố vào năm 1947.
Dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản nhân dân ta vùng lên làm cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 đánh đuôi thực dân Pháp và xóa bỏ chế độ phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa (mông 2 tháng 9 năm 1945). Đây cũng là lúc cụm từ “Đời sống mới” xuất hiện trong văn kiện đờng lối của Đảng. Sau khi giành chính quyền nhân dân ta bắt tay vào xây dựng sự nghiệp kiến quốc.