Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Triết học với đề tài "Sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội hiện nay" do sinh viên Kiều Thị Minh Châu thực hiện (người hướng dẫn: TS. Phạm Quỳnh Chinh, Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2019). Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) và xây dựng nông thôn mới (NTM), dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong mọi mặt đời sống nông thôn, đặc biệt là sự đan xen giữa các giá trị văn hóa truyền thống và các nhân tố mới từ kinh tế thị trường, đô thị hóa.

Xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội là một địa bàn nông nghiệp truyền thống điển hình ở vùng bán sơn địa phía Tây Hà Nội với 75% dân số lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi). Mặc dù đời sống vật chất của cư dân địa phương đã có nhiều khởi sắc, song đời sống tinh thần cũng đang đối mặt với nhiều mâu thuẫn, tác động tiêu cực nảy sinh từ sự xâm nhập nhanh chóng của lối sống đô thị và cơ chế thị trường.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ thực trạng và nguyên nhân của sự biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên trên cơ sở lý luận triết học và khảo sát thực tế địa phương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần tại địa bàn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể theo 4 nội dung:

  1. Đưa ra các quan niệm về văn hóa, đời sống văn hóa và đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân.
  2. Khái quát về điều kiện địa tự nhiên, kinh tế, xã hội và đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên.
  3. Làm rõ thực trạng sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên hiện nay.
  4. Phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố tích cực, hạn chế tiêu cực trong đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào giai đoạn biến đổi từ năm 2010 đến năm 2019; phạm vi không gian là địa bàn 4 thôn thuộc xã Đông Yên (Đông Hạ, Đông Thượng, Yên Thái, Việt Yên).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận, khóa luận vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, đời sống văn hóa và vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn (tam nông). Khóa luận trích dẫn các văn kiện quan trọng như Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV (1976), Đại hội V (1982), Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị (Khoán 10, năm 1988) và Luật Đất đai năm 1993.

Tác giả tiếp cận các định nghĩa và hệ khái niệm học thuật từ nhiều nguồn: quan niệm văn hóa của Không Tử, E. Taylor, định nghĩa của UNESCO qua phát biểu của F. Mayor (1970), Sapovalop, học giả Đào Duy Anh (1938), quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1947, 1995), khái niệm đời sống văn hóa của Trần Đức Ngôn, cùng các công trình nghiên cứu về nông thôn và giá trị truyền thống của Trần Văn Giàu, Trần Hữu Tòng, Đặng Kim Sơn, Tương Lai, Đào Thế Tuấn, Vũ Quang Hiển.

Khóa luận xác định đời sống văn hóa tinh thần trải qua 5 khâu cấu thành:

  1. Nhu cầu văn hóa tinh thần.
  2. Sản xuất (sáng tạo) giá trị văn hóa tinh thần.
  3. Bảo quản (lưu giữ) giá trị văn hóa tinh thần.
  4. Trao đổi (giao tiếp, chuyển giao) giá trị văn hóa tinh thần.
  5. Tiêu dùng giá trị văn hóa tinh thần.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê xã hội học, phương pháp so sánh và phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân tại thực địa (sử dụng biên bản phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương).

Nguồn dữ liệu thực tế phục vụ khóa luận được thu thập từ:

  • Báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đông Yên qua các năm 2010, 2011, 2012, 2015, 2018 về tình hình kinh tế - xã hội, địa chính, văn hóa và xây dựng nông thôn mới.
  • Tư liệu lịch sử Đảng bộ địa phương và số liệu tổng kết người tham gia kháng chiến của xã Đông Yên (năm 1995).
  • Dữ liệu phỏng vấn sâu người dân địa phương trong quá trình tác giả điền dã năm 2019.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Khái quát về văn hóa, đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân Đông Yên

Chương 1 được kết cấu thành 2 tiết lớn, tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và phác thảo diện mạo tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu.

Tiết 1.1 làm rõ các khái niệm văn hóa, đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần và 3 đặc điểm căn bản của giai cấp nông dân Việt Nam:

  1. Phương thức sản xuất lúa nước là căn bản, quy định nếp nghĩ trọng nông, trọng kinh nghiệm, tạo nên tính ổn định, bền vững và tính cộng đồng trong làng xã.
  2. Nông dân vừa là một giai cấp (lực lượng sở hữu tư liệu sản xuất và tham gia liên minh công nông), vừa không phải là một giai cấp độc lập do cơ cấu kinh tế manh mún, phân tán, không có hệ tư tưởng độc lập mà chịu sự chi phối của hệ tư tưởng thống trị.
  3. Giai cấp nông dân vừa có tinh thần đoàn kết cách mạng, vừa mang tư tưởng bình quân, cục bộ địa phương xuất phát từ kinh tế tự cấp tự túc và dấu ấn của giai đoạn phân phối bao cấp trước thời kỳ đổi mới.

Tiết 1.2 phân tích các điều kiện đặc thù của xã Đông Yên. Về mặt địa lý, xã nằm ở vùng bán sơn địa phía Tây huyện Quốc Oai, cách trung tâm Hà Nội 30 km, có địa hình gò đồi xen kẽ đồng ruộng, tiếp giáp Quốc lộ 6A và Quốc lộ 21A, ven hạ lưu sông Tích Giang. Diện tích tự nhiên toàn xã là 10.787,8 km2 (theo số liệu văn bản), đất canh tác phân bổ trên 30 quả đồi khác nhau. Đến năm 2018, dân số toàn xã là 13.786 người, cư trú tại 4 thôn (Đông Hạ, Đông Thượng, Yên Thái, Việt Yên), 100% là dân tộc Kinh, mật độ dân số 918 người/km2.

Tác giả chỉ ra 5 đặc điểm nổi bật trong đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân Đông Yên:

  • Lối sống giản dị, cần cù, tiết kiệm xuất phát từ phương thức lao động nông nghiệp nặng nhọc, thô sơ và phụ thuộc thiên nhiên.
  • Tinh thần cố kết cộng đồng cao thông qua tính cộng cư, cộng cảm, cộng hữu, cộng mệnh; lối sống trọng tình nghĩa, danh dự, đạo đức nhưng đồng thời dễ nảy sinh tâm lý dĩ hòa vi quý, ngại va chạm.
  • Hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, kết hợp giữa thờ cúng tự nhiên, thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng Thành hoàng làng tại các đình, miếu (đình Đông Hạ, đình Đông Thượng, đình Yên Thái, đình Thượng và đình Hạ Việt Yên; gác chuông chùa Việt Yên hai tầng tám mái), hài hòa giữa Phật giáo và Công giáo.
  • Đời sống tinh thần đa dạng thông qua hệ thống lễ hội truyền thống (hội đình làng chu kỳ 5 năm/lần, cúng cơm mới, giết sâu bọ) và các lễ hội mới (festival nông nghiệp, hội làng văn hóa).
  • Tồn tại các hạn chế lịch sử như tư tưởng bình quân, ngại đổi mới, sản xuất phụ thuộc kinh nghiệm, tính tùy tiện và thói quen chấp hành pháp luật chưa cao ("phép vua thua lệ làng").

Chương 2. Sự biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

Chương 2 phản ánh quá trình chuyển đổi của đời sống văn hóa tinh thần từ năm 2010 đến năm 2019 dựa trên tác động của công cuộc đổi mới kinh tế và chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Tiết 2.1 làm rõ thực trạng biến đổi trên các lĩnh vực:

  • Nhận thức, tư tưởng: Tác giả chỉ ra sự thay đổi tư duy từ sản xuất tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa, ứng dụng mô hình vườn - ao - chuồng (VAC). Sau chương trình dồn điền đổi thửa năm 2012, diện tích đất canh tác của mỗi hộ được quy hoạch tập trung còn 1 đến 2 mảnh lớn, tạo điều kiện cơ giới hóa khâu làm đất, thu hoạch. Năm 2017, UBND xã vận hành "phòng một cửa" giúp tinh giản thủ tục hành chính liên quan đến phân phối nông sản. Người dân chủ động sử dụng mạng xã hội và kênh trực tuyến để quảng bá nông sản.
  • Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ: Nhận thức của nông dân về việc học tập có bước chuyển rõ rệt. Dẫn chứng từ phỏng vấn sâu cho thấy người dân nhận thức sâu sắc việc không để con em thất học nhằm thoát khỏi lao động chân tay thuần túy. Năm 2017, Trường THCS Đông Yên đạt chuẩn Quốc gia; toàn xã có 4 trường mẫu giáo và 4 trường tiểu học tại 4 thôn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ngắn ngày đạt 30%.
  • Đạo đức, lối sống: Xuất hiện sự đan xen giữa các giá trị đạo đức truyền thống (tương thân tương ái, tính cố kết xóm giềng) với lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất của kinh tế thị trường.
  • Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo: Người dân tự giác đóng góp kinh phí tu bổ di tích (năm 2015, toàn xã quyên góp được 925 triệu đồng để tôn tạo đình, chùa, nhà văn hóa). Hoạt động tín ngưỡng giữ được tính thiêng nhưng phần hội được mở rộng với nhiều hoạt động giao lưu.
  • Hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao: Phục hồi các câu lạc bộ hát, múa của Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên; thành lập các câu lạc bộ bóng đá, cầu lông, bóng chuyền giao lưu liên thôn, liên xã.
Chỉ số kinh tế - xã hội tại xã Đông Yên Mốc thời gian / Giá trị ghi nhận
Tỷ trọng lao động nông - lâm - ngư nghiệp 75% tổng lực lượng lao động (năm 2018)
Tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ - hành chính Công nghiệp: 14%; Dịch vụ - hành chính: 11%
Tỷ lệ hộ nghèo 0,43% (16 hộ) vào năm 2018
Tỷ lệ hộ cận nghèo 5,67% (205 hộ) vào năm 2018
Thu nhập bình quân đầu người 20.539.000 đ/người/năm (2010) tăng lên 41.365.000 đ/người/năm (2018)
Giá trị kinh tế chăn nuôi, thủy sản 186 tỷ 433 triệu đồng (2018), đạt 263,7% so với cùng kỳ
Tỷ lệ đường giao thông nội đồng được bê tông hóa Trên 90% (sau năm 2012)
Kinh phí người dân đóng góp tu tạo thiết chế văn hóa 925 triệu đồng (năm 2015)

Tiết 2.2 luận giải nguyên nhân của sự biến đổi (tác động của cơ chế thị trường, CNH - HĐH, chủ trương dồn điền đổi thửa và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế) và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Đổi mới, nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương và cán bộ chuyên trách văn hóa cơ sở; tránh tư tưởng coi văn hóa là phong trào bề nổi.
  • Phát triển kinh tế gắn với nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần; đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp và nhân rộng mô hình VAC.
  • Hoàn thiện, phát huy công năng hệ thống thiết chế văn hóa (nhà văn hóa, sân thể thao, thư viện xã, tu bổ di tích đình, chùa).
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề ngắn ngày, phổ biến kiến thức khoa học - kỹ thuật nông nghiệp.
  • Giữ gìn chuẩn mực đạo đức truyền thống, khắc phục tư tưởng cào bằng, ỷ lại và thói quen xem nhẹ pháp luật ở một bộ phận nông dân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với tư liệu thực tế:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có số liệu đối chiếu về sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và biến đổi văn hóa tinh thần tại xã Đông Yên từ năm 2010 đến 2018 (thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi từ 20,539 triệu lên 41,365 triệu đồng/năm; giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống 0,43%).
  • Phản ánh trung thực tác động của chính sách dồn điền đổi thửa (năm 2012) và bê tông hóa hơn 90% giao thông nội đồng đối với sự thay đổi phương thức lao động từ thủ công sang cơ giới hóa, làm biến đổi tư duy sản xuất và sinh hoạt cộng đồng.
  • Về mặt lý luận, khóa luận hệ thống hóa các khái niệm văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp nông dân dưới góc độ triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Về mặt thực tiễn, tác giả tự khẳng định đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt về đời sống văn hóa tinh thần của người nông dân xã Đông Yên, huyện Quốc Oai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, tạo nguồn tư liệu tham khảo cụ thể cho địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn được tác giả ghi nhận hoặc phản ánh qua nội dung:

  • Phạm vi tư liệu khảo sát thực tế và biên bản phỏng vấn sâu còn ở quy mô hẹp, chủ yếu mang tính định tính tại địa phương, chưa có các bảng điều tra xã hội học định lượng diện rộng trên toàn bộ các nhóm dân cư 4 thôn.
  • Một số số liệu địa chính trong văn bản khóa luận tồn tại sự thiếu thống nhất về đơn vị đo lường (ghi nhận diện tích toàn xã 10.787,8 km2 thay vì hecta theo quy chuẩn hành chính cấp xã).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng điều tra xã hội học định lượng về sự chuyển dịch cơ cấu xã hội của các nhóm nông dân không còn ruộng đất, đánh giá sâu hơn tác động của mạng Internet và các nền tảng số đối với lối sống của giới trẻ nông thôn ở ngoại thành Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Triết học, Xã hội học, Văn hóa học khi tìm kiếm mô hình nghiên cứu trường hợp (case study) về sự biến đổi văn hóa tinh thần của nông dân đồng bằng Bắc Bộ dưới tác động của xây dựng nông thôn mới.
  • Cán bộ quản lý văn hóa cơ sở, Ban Văn hóa - Xã hội của UBND xã Đông Yên và huyện Quốc Oai trong việc xây dựng kế hoạch quản lý thiết chế văn hóa, định hướng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" tại địa phương.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Tiết 1.2 và Tiết 2.1 với các số liệu thực tế về dồn điền đổi thửa, cơ cấu kinh tế hộ gia đình, phong tục lễ hội đình làng và hệ thống di tích lịch sử tại 4 thôn của xã Đông Yên.

Câu hỏi thường gặp

1. Ai là người hướng dẫn khoa học và khóa luận được bảo vệ tại cơ sở nào, vào năm nào?
Khóa luận do sinh viên Kiều Thị Minh Châu thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Quỳnh Chinh, hoàn thành ngày 05 tháng 06 năm 2019 tại Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Địa bàn nghiên cứu xã Đông Yên gồm những thôn nào và có đặc điểm dân cư ra sao?
Xã Đông Yên gồm 4 thôn: Đông Hạ, Đông Thượng, Yên Thái và Việt Yên. Tính đến năm 2018, xã có 13.786 nhân khẩu, mật độ dân số 918 người/km2 và 100% cư dân đều thuộc dân tộc Kinh.

3. Tình hình kinh tế và thu nhập của người nông dân xã Đông Yên có sự biến đổi như thế nào giữa năm 2010 và 2018?
Thu nhập bình quân đầu người tại xã tăng từ 20.539.000 đồng/người/năm (năm 2010) lên 41.365.000 đồng/người/năm (năm 2018). Tỷ lệ hộ nghèo năm 2018 giảm còn 0,43% (16 hộ), giá trị ngành chăn nuôi và thủy sản đạt 186 tỷ 433 triệu đồng.

4. Đình làng ở các thôn thuộc xã Đông Yên thờ phụng những nhân vật lịch sử nào?
Đình Đông Hạ thờ tướng quân Đặng Long Uyên (thời Hùng Vương thứ 18) và Mai Trang công chúa (nữ tướng của Hai Bà Trưng); đình Đông Thượng thờ tướng quân Đặng Long Uyên; đình Yên Thái thờ Đặng Công Oánh; đình Thượng làng Việt Yên thờ Tản Viên Sơn Thánh tam vị quốc chúa Đại Vương, còn đình Hạ thờ Mai Trang công chúa.

5. Công cuộc dồn điền đổi thửa diễn ra vào năm nào và tác động trực tiếp ra sao đến hạ tầng nông nghiệp Đông Yên?
Công tác dồn điền đổi thửa được thực hiện năm 2012, quy hoạch ruộng đất manh mún về còn 1 đến 2 thửa lớn cho mỗi hộ, tạo điều kiện cơ giới hóa sản xuất và hoàn thành bê tông hóa hơn 90% hệ thống đường giao thông nội đồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Kiều Thị Minh Châu đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của nông dân xã Đông Yên từ góc độ triết học văn hóa và triết học xã hội. Công trình phản ánh chân thực những mặt tích cực trong thay đổi nhận thức kinh tế, nâng cao dân trí, bảo tồn lễ hội truyền thống, đồng thời chỉ rõ những tồn tại như tư tưởng bình quân, lối sống thực dụng nảy sinh từ mặt trái kinh tế thị trường. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn đối với công tác quy hoạch, xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới tại huyện Quốc Oai nói riêng và vùng ngoại thành Hà Nội nói chung.