Chương 1. SỰ BIẾN ĐỔI ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH THĂNG LONG - HÀ NỘI THỜI PHONG KIẾN (Đầu thế kỉ XI đến giữa thế kỉ XIX) 1. Vài nét về sự biến đổi địa giới hành chính Thăng Long thời Đại Việt (đầu thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XVIII). Thời kì tiền Thăng Long.
Khoảng 4 triệu năm trước, vùng đất Hà Nội đã được hình thành. Con người đã xuất hiện ở khu vực này cách đây 2 vạn năm. Sau đó biển lấn, khoảng 4 hoặc 5 ngàn năm trước Công nguyên, con người mới quay lại đây sinh sống. Theo sách Tây hồ kí, “làng Hà Nội gốc nằm hai bên bờ sông Tô, nơi tiếp giáp với sông Hồng.
Làng có một cầu tre bắc qua sông Tô, nối hai nửa làng, gọi là cầu Giát (nay ở phố Cửa Bắc). Tre ngà mọc thành rừng ở quãng Yên Ninh - Yên Quang sau này. Bên ngoài, cây cối um tùm tỏa lan tới mép nước sông Hồng. Xế bên kia cầu, có một gò đất cao là núi Nùng, là nấm mồ của thủ lĩnh hay mộ chung của cả làng.
Cấu trúc của làng bao gồm một số xóm. Bên rừng tre ngà là xóm Rừng (Tân Lâm Ấp), phía tây xóm Rừng là xóm Già La (nay là Quán La), phía đông là xóm Rừng Ngà (động Nha Lâm), phía nam là xóm Bãi (động Bình Sa, khoảng đất bãi ngoài đê sông Hồng). Cũng ở phía đông cạnh cầu Tre Ngà gần cửa sông Tô có xóm trại Cá Tươi (trại Tiên Ngư)” [48; tr. Đây là vị trí thuận lợi, dân đông, vật thịnh, địa giới của làng không ngừng được mở rộng.
Theo sách Giao Châu kí, thủ lĩnh của làng Hà Nội gốc là Tô Lịch. Thời Tấn (265 - 420), chính quyền đô hộ phương Bắc có lệ đề cử người hiếu hạnh làm huyện lệnh, Tô Lịch được đề cử làm huyện lệnh ở Long Đỗ. Năm mất mùa, ông cho cả làng vay thóc. Vì thế mà tên của ông được đặt làm tên làng Hà Nội gốc - làng Tô Lịch [48; tr.
Đến thế kỉ thứ V, làng Tô Lịch trở thành huyện Tống Bình, rồi được nâng thành quận gồm 3 huyện: Nghĩa Hoài, Tuy Ninh ở nam sông Hồng (Từ Liêm và Hoài Đức ngày nay) và Xương Quốc ở bắc sông Hống vươn tới tận Cổ Loa, Đông Anh ngày 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Năm 542 - 544, Lí Bí khởi nghĩa thắng lợi, lập nước Vạn Xuân, đóng đô ở cửa sông Tô Lịch, quận Tống Bình. Nơi đây nằm giữa đồng bằng sông Hồng, trung tâm đất nước, dân đông, vật thịnh, giao thông thủy bộ dễ dàng nên thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đất nước. Sự kiện này mở đường cho truyền thống định đô ở Thăng Long về sau.
Trước sự phát triển kinh tế xã hội của Tống Bình, năm 603, sau khi đàn áp xong cuộc kháng chiến của Lí Phật Tử, nhà Tùy đã chuyển trung tâm cai trị nước ta từ Long Biên (Bắc Ninh) về Tống Bình. Từ đây đến đầu thế kỉ X, Tống Bình thường là thủ phủ của chính quyền đô hộ phương Bắc. Đến đầu thế kỉ X, Tống Bình chiếm 11 trong số 55 hương của Giao Châu với 15 vạn dân. Nhiều thành luỹ đồng tâm được xây dựng, bắt đầu bằng Tử Thành (thành con) của viên tổng quản Khâu Hòa xây năm 621 bên bờ sông Tô Lịch với chu vi 900 bộ (khoảng 1.674 mét) và kết thúc bằng Đại La Thành của viên Tiết độ sứ Cao Biền đắp năm 865 - 866 với chu vi 3.
Đại La Thành là khu vực từ Cửa Đông đến gần Bách Thảo, từ Cửa Nam đến đường Quán Thánh ngày nay [48; tr. Tuy chỉ là phủ thành hành chính, chưa có dân ở nhưng thành Đại La đã xác lập địa giới hành chính Hà Nội thời kì tiền Thăng Long. Thời kì Thăng Long. Năm 905, họ Khúc dựng nền tự chủ, đóng đô ở Đại La - Thủ phủ của Tiết độ sứ nhà Đường.
Năm 938, Ngô Quyền khôi phục độc lập hoàn toàn cho dân tộc và lập ra nhà Ngô, đóng đô tại Cổ Loa. Tiếp đó, nhà Đinh và Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Cổ Loa và Hoa Lư phù hợp với thủ hiểm trong thời chiến nhưng không thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội trong thời bình. Mùa thu năm 1010, vua Lí Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên Đại La là Thăng Long.
Chiếu dời đô khẳng định nơi đây “ở giữa trời đất, có thế rồng cuộn, hổ chầu, ở giữa nam, bắc, tây, đông, tiện hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật thịnh đạt, phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn phương, nơi thượng đô của kinh sư muôn đời” [27; tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà Lí xây dựng thành Thăng Long có 2 vòng thành: Vòng thành trong để nhà nước trung ương làm việc, nay thuộc quận Ba Đình. La Thành là nơi dân ở có tên gọi là Phủ Ứng Thiên gồm 61 phường [48; tr.
Dấu tích địa giới La Thành thời Lí: “phía đông là đoạn đê sông Hồng lên Hồ Tây, tiếp là đoạn đường Hoàng Hoa Thám rồi chạy theo bờ tả ngạn sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Cầu Giấy lại tiếp qua Giảng Võ đến Ô Chợ Dừa, Kim Liên rồi thẳng đường Đại Cồ Việt và đường Trần Khát Chân cho đến Ô Đông Mác lại gặp đê sông Hồng” [44; tr. Năm 1230, nhà Trần tu sửa thành Đại La, có mở rộng thêm ít nhiều, gồm ba vòng là Cấm Thành, Hoàng Thành và La Thành. Dân cư ở ngoài Hoàng Thành đến hết La Thành. Tại khu dân ở, nhà Trần đổi giai ra phường và đổi tên một số phường như Hồng Tâm thành Yên Thái, Yên Hoa thành Yên Phụ; đồng thời chia thành 61 phường, có lẽ là 61 đơn vị hành chính của nhà nước [44; tr.
Từ năm 1397, Hồ Quý Li dời đô vào Tây Đô (Thanh Hoá), Thăng Long đổi tên thành Đông Đô. Năm 1406 - 1427, nhà Minh thống trị Đại Việt, Đông Đô bị đổi tên thành Đông Quan và là sào huyệt trung tâm của giặc Minh. Năm 1427, khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, định đô ở Đông Đô. Năm 1430, nhà Lê đổi Đông Đô làm Đông Kinh.
Năm 1466, vùng kinh sư đặt thành phủ Trung Đô gồm hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương. Năm 1469, phủ Trung Đô đổi tên thành phủ Phụng Thiên gồm Thăng Long thành, huyện Quảng Đức và huyện Vĩnh Xương. Vòng thành ngoài cùng của Đông Kinh được gọi là Cung Thành hay Phượng Thành. Do kinh tế xã hội phát triển, Phượng Thành được mở rộng đắp thêm ra ngoài trường đấu võ, dài rộng 8 dặm (1490).
Khu dân cư của hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương chia làm 36 phường, mỗi huyện 18 phường. Quy hoạch 36 phố phường của Thăng Long - Hà Nội bắt đầu từ đó (1430). Năm 1527, nhà Mạc được thành lập, Đông Kinh là kinh đô và trở lại tên Thăng Long. Đề phòng những cuộc tiến công của quân Trịnh, năm 1588, nhà Mạc đắp thêm ba lần lũy ngoài thành Đại La.
Trên bản đồ Hà Nội ngày nay, “lũy thành này bắt đầu từ Nhật Tân, chạy theo phía tây Hồ Tây, qua Bưởi, Ô Cầu Giấy, theo đường Giảng Võ - La Thành qua Ô Chợ Dừa, Kim Liên, rồi theo đường Đại Cồ Việt - Trần Khát Chân qua Ô Cầu Dền, Ô Đông Mác, ra tới đê sông Hồng. Lũy thành này rộng hơn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành Đại La và đưa toàn bộ khu Hồ Tây vào trong phạm vi thành Thăng Long thời Mạc” [56; tr. Năm 1592, quân Trịnh đánh bại quân Mạc, phá hủy hoàn toàn hệ thống thành lũy phòng vệ của nhà Mạc ở Thăng Long. Trong thế kỉ XVII - XVIII, thành Thăng Long, huyện Thọ Xương, huyện Quảng Đức vẫn thuộc phủ Phụng Thiên do Phủ Doãn đứng đầu.
Thời Tây Sơn, Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân (Huế), Thăng Long là thủ phủ của Bắc Thành (Bắc Bộ ngày nay). Như vậy, sau năm 1010, Thăng Long là kinh đô của Đại Việt (trừ thời Hồ, Tây Sơn). Nó nhiều lần đổi tên nhưng vẫn thuộc phủ Ứng Thiên (thời Lí, Trần), phủ Trung Đô rồi phủ Phụng Thiên (thời Lê, Mạc). Kinh thành Thăng Long cùng với huyện Thọ Xương và huyện Quảng Đức tạo thành phủ Phụng Thiên do Phủ Doãn đứng đầu.
Kinh thành được coi như nội thành, hai huyện được coi như ngoại thành. Ngoại thành Thăng Long được chia ra 61 phường, rồi lại 36 phường. Địa giới hành chính Thăng Long được mở rộng dần do nhu cầu xây dựng kinh đô của quốc gia phong kiến độc lập đang trên đà phát triển, do yêu cầu chiến tranh Nam - Bắc triều và do sự phát triển kinh tế hàng hóa thế kỉ XVI - XVIII. Sự biến đổi địa giới hành chính Thăng Long - Hà Nội từ năm 1802 - 1858.
Sự biến đổi địa giới hành chính Thăng Long từ năm 1802 - 1830. Năm 1802, nhà Nguyễn được thành lập và đóng đô ở Phú Xuân (Huế), Thăng Long vẫn là thủ phủ của Bắc Thành gồm 11 trấn. Năm 1803, Gia Long cho phá bỏ Hoàng thành Thăng Long và xây lại một tòa thành mới theo kiểu Vôbăng trên nền cũ nhưng quy mô nhỏ hơn. Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số, tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình Phùng ở phía bắc, phố Lý Nam Đế ở phía đông, phố Trần Phú ở phía nam, đường Hùng Vương ở phía tây.
Nhiệm sở Tổng trấn Bắc thành ở phía đông trong thành (nay là phố Lí Nam Đế và phố Cửa Đông) [73; cập nhật ngày 18 - 10 - 2009]. Năm 1805, vua Gia Long đổi tên phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, huyện Quảng Đức đổi thành huyện Vĩnh Thuận. Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), huyện Từ Liêm quản lãnh 13 tổng, 80 xã, thôn, trang, trại, sở từ phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây được sáp nhập vào phủ Hoài Đức [23; tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa giới phủ Hoài Đức năm 1830, phía đông giáp sông Nhĩ Hà (đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội uốn cong hình vành tai), bờ đối diện là các xã Bắc Cầu, Gia Thuỵ, Ái Mộ, Phú Du, Thạch Cầu thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc.
Phía tây giáp sông Hát Giang (sông Đáy), bờ đối diện là các xã Cù Sơn, Quảng Động, Cộng Xá, Sơn Lộ, Bất Lạm, Tĩnh Lam, Cử Nghĩa thuộc huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây cùng các xã Hương Lang, Địch Vị, Cổ Ngoã, Đại Phùng, Tu Hoàng, Lai Xá, Di Ái, Lại Yên, Hương Bảng thuộc huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.