Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số 5.51) với đề tài "Sự biến đổi cơ cấu lao động - việc làm ở nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Hải Thanh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn An Lịch, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tế chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Tại Việt Nam, công cuộc đổi mới từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, làm thay đổi căn bản nhận thức và thực tiễn về lao động - việc làm. Nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh là khu vực diễn ra quá trình đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, dẫn đến sự hình thành thị trường lao động đa dạng nhưng cũng tác động sâu sắc đến cấu trúc xã hội, thiết chế tổ chức và đời sống của cư dân nông thôn. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ xã hội học về cơ cấu lao động - việc làm tại các vùng nông thôn ven đô thị.
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm:
- Nghiên cứu sự thay đổi cơ cấu lao động gắn với việc làm ở nông thôn ngoại thành.
- Tìm hiểu những nhân tố khách quan, chủ quan tác động đến quá trình đổi mới ở nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nêu ra những khuyến nghị về giải pháp chính sách tạo việc làm cho lao động nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định:
- Tìm ra cơ sở lý luận và phương pháp luận của đối tượng nghiên cứu.
- Tiến hành điều tra xã hội học và thu thập tài liệu liên quan.
- Xây dựng các giải pháp chính sách để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ngoại thành.
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm ba giả thuyết được đánh số như sau:
- Giả thuyết thứ nhất: Công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tác động trực tiếp đến sự biến đổi kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
- Giả thuyết thứ hai: Trong sự biến đổi kinh tế - xã hội ấy, cơ cấu lao động - việc làm ở nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh cũng biến đổi mạnh mẽ từ yếu tố nhận thức đến hoạt động thực tiễn.
- Giả thuyết thứ ba: Những giải pháp để tạo chỗ làm việc cho lao động nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hóa chưa được chú ý đúng mức. Điều đó để lại những hệ quả kinh tế - xã hội cần phải được giải quyết.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự thay đổi cơ cấu lao động - việc làm ở nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu: Lao động nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý kinh tế, xã hội.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sự thay đổi cơ cấu lao động - việc làm từ thời kỳ đổi mới đến thời điểm thực hiện luận án, tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ giữa thập niên 1990 đến những năm đầu thế kỷ XXI.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 05 huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, chọn mẫu điều tra thực địa tại huyện Bình Chánh và huyện Hóc Môn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài theo từng nhóm hướng tiếp cận:
- Hướng tiếp cận chính sách và thể chế thị trường lao động ở cấp vĩ mô: Nguyễn Hữu Dũng trong công trình "Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam" (1997) đề xuất các giải pháp chiến lược quốc gia nhằm giải quyết việc làm, tập trung vào chính sách xã hội mà không phân tích sâu cơ cấu lao động - việc làm. Nguyễn Quang Hiển với "Thị trường lao động - Thực trạng và giải pháp" (1995) và Nguyễn Thị Lan Hương với "Thị trường lao động Việt Nam - định hướng và phát triển" (2002) tập trung làm rõ hệ thống khái niệm, hiện trạng và định hướng phát triển thị trường lao động Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Hướng tiếp cận kinh tế lao động và phân bổ nguồn lực: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2002 do PGS. TS Nguyễn Quốc Tế chủ biên mang tên "Phân bổ và sử dụng nguồn lao động theo vùng và vấn đề giải quyết việc làm trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường ở Việt Nam" tiếp cận dưới góc độ kinh tế học, đưa ra phương án phân bổ và sử dụng lao động theo vùng lãnh thổ cùng các biện pháp kinh tế giải quyết việc làm. Đề tài năm 1998 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh do Tiến sĩ Trần Đình Thêm chủ biên với tựa đề "Xây dựng các giải pháp chính sách giải quyết việc làm cho lao động ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa" thuần túy đề xuất các giải pháp chính sách kinh tế lao động cho địa bàn ngoại thành.
- Hướng tiếp cận xã hội học và nhân khẩu học theo nhóm đối tượng hoặc địa bàn hẹp: Bài viết của Trần Thị Đan Tâm trên Tạp chí Khoa học xã hội số 32 (1997) với nhan đề "Vấn đề chuyển dịch nghề nghiệp của phụ nữ ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa" phân tích sự chuyển dịch nghề nghiệp của đối tượng phụ nữ ngoại thành dưới tác động của đô thị hóa. Luận văn thạc sĩ năm 2000 của Lê Ngọc Lân mang tên "Thực trạng cơ cấu lao động - nghề nghiệp của hộ gia đình nông thôn hiện nay và vai trò của phụ nữ (qua nghiên cứu hai xã Cẩm Vũ và Mỹ Luông)" phản ánh thực trạng cơ cấu lao động - nghề nghiệp của hộ nông thôn nhưng không xem xét tiến trình biến đổi và chỉ giới hạn khảo sát tại hai xã đồng bằng Bắc Bộ. Công trình "Cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh" (2004) của PGS. TS Vũ Anh Tuấn tiếp cận khái niệm và cơ sở phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế học và nhân khẩu học. Cuốn sách "Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên" (2005) do Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng chủ biên cùng nhóm tác giả phân tích quan hệ giữa thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp của thanh niên, dự báo cung - cầu lao động đến năm 2010.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Dù các nghiên cứu đi trước đã đóng góp nhiều luận cứ cho hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, các công trình chủ yếu tiếp cận thuần túy từ kinh tế học, chính sách việc làm hoặc chỉ khảo sát những nhóm xã hội riêng lẻ. Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống nào tiếp cận toàn diện vấn đề cơ cấu lao động - việc làm tại các vùng nông thôn ven đô thị dưới góc độ xã hội học. Luận án của Lê Hải Thanh hướng tới việc giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích bản chất xã hội học của những biến đổi trong cơ cấu lao động - việc làm tại vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các khái niệm công cụ, các lý thuyết xã hội học kinh điển, lý thuyết xã hội học hiện đại và các quan điểm kinh tế học về thị trường lao động:
- Hệ thống khái niệm công cụ:
- Lao động: Hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần (dẫn theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, tr. 553 và Điều 55 Hiến pháp năm 1992).
- Việc làm: Được xác định trên cơ sở Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 13) và Thông tư năm 1986 của Liên bộ Lao động - Tổng cục Thống kê, bao gồm ba khía cạnh: hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất/tinh thần; hoạt động có mục đích và đem lại thu nhập (tiền tệ hoặc hiện vật); hoạt động không bị pháp luật cấm.
- Biến đổi xã hội: Sự thay đổi diễn ra trong khuôn mẫu tổ chức xã hội, cấu trúc, thiết chế và đời sống văn hóa xã hội; chịu sự tác động của ba nhân tố căn bản: đổi mới, công nghiệp hóa và đô thị hóa.
- Cơ cấu lao động - việc làm: Một bộ phận của cơ cấu xã hội (bên cạnh cơ cấu giai cấp xã hội và vị thế, vai trò xã hội), thể hiện tổng thể kết cấu, hình thức tổ chức hoạt động lao động sản xuất - nghề nghiệp, phản ánh cả dấu hiệu định lượng (trình độ lực lượng sản xuất) lẫn dấu hiệu định tính (thái độ, hành vi, chuẩn mực văn hóa).
- Thị trường lao động - việc làm: Không gian trao đổi dịch vụ lao động giữa bên mua và bên bán sức lao động; chỉ hình thành khi có kinh tế hàng hóa, khuôn khổ pháp luật thừa nhận, người lao động có quyền sở hữu sức lao động cá nhân và không sở hữu tư liệu sản xuất đủ nuôi sống bản thân.
- Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực: Tổng hợp quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Phạm Minh Hạc, Phan Văn Đức, Vũ Anh Tuấn, UNESCO và ILO; xác định phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao và phát huy thể lực, trí lực, kỹ năng, phẩm chất của con người vì sự tiến bộ xã hội.
- Nông thôn ngoại thành: Cộng đồng xã hội sống ở vùng giáp ranh với đô thị, được định vị là "nhóm quá độ" trong quá trình đô thị hóa (không thuần túy là đoàn kết cơ giới, nhưng cũng chưa hoàn toàn là đoàn kết hữu cơ). Nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh có ba đặc điểm đặc thù: chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ trước đây; chịu tác động từ trung tâm kinh tế năng động và nền sản xuất hàng hóa Nam Bộ; mang đặc trưng văn hóa địa phương phóng túng, ưa chuộng tự do, dám nghĩ dám làm nhưng thiếu sự căn cơ.
- Khung lý thuyết phân tích:
- Lý thuyết phân công lao động xã hội của Emile Durkheim: Tác giả sử dụng tác phẩm Sự phân công lao động xã hội (1893) và Các quy tắc của phương pháp xã hội học để tiếp cận sự kiện xã hội (vật chất và phi vật chất, có tính khách quan bên ngoài và sức mạnh kiểm soát cưỡng chế hành vi), nguyên tắc coi sự kiện xã hội như sự vật, giải thích ngang cấp, phân biệt chức năng với nguyên nhân hiệu quả. Luận án vận dụng sự đối sánh giữa "đoàn kết cơ giới" (mechanical solidarity - dựa trên sự thuần nhất, ý thức tập thể áp đảo) và "đoàn kết hữu cơ" (organic solidarity - dựa trên sự chuyên môn hóa chức năng, tương tác trao đổi đa dạng) để lý giải quá trình chuyển đổi xã hội nông thôn ngoại thành.
- Lý thuyết hành động xã hội và phân tầng xã hội của Max Weber: Dựa trên tác phẩm Kinh tế và xã hội cùng Đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, luận án vận dụng quan điểm giải nghĩa hành động xã hội (4 loại: duy lý - công cụ, duy lý - giá trị, duy cảm, duy lý truyền thống), phương pháp loại hình lý tưởng (ideal type gồm dạng sự kiện, khái niệm và lý thuyết). Về phân tầng xã hội, Weber chỉ ra cơ cấu xã hội không chỉ do yếu tố kinh tế (sở hữu tài sản/vốn) quyết định mà còn bị chi phối bởi các yếu tố phi kinh tế (uy tín, vị thế, quyền lực chính trị). Giai cấp bán sức lao động được phân hóa thành: lao động thô sơ ("công nhân cổ xanh"), lao động kỹ thuật ("công nhân cổ trắng"), và lao động dịch vụ - quản lý.
- Lý thuyết cơ cấu chức năng của Talcott Parsons: Sử dụng các luận điểm từ Cấu trúc của hành động xã hội (1937) và Vai trò của giới tính trong hệ thống của người Mỹ (1943). Parsons nhìn nhận hệ thống xã hội vận hành qua 4 phân hệ tương ứng 4 chức năng: tổ chức hành vi (kinh tế/lao động - thích ứng), hệ thống cá nhân (chính trị - hướng đích), hệ thống văn hóa (duy trì khuôn mẫu lặn), hệ thống xã hội (hòa nhập). Cấu trúc hệ thống gồm 4 loại hình giá trị: giá trị, chuẩn mực, vai trò và tập hợp. Luận án sử dụng lý thuyết hành động, lý thuyết vai trò và mô hình tiến hóa xã hội (phân hóa cấu trúc, nâng cấp tính thích nghi, hòa nhập, biến đổi hệ thống giá trị qua ba thời kỳ nguyên thủy, trung cổ, hiện đại) để phân tích cơ cấu lao động - việc làm trong tổng thể biến đổi xã hội.
- Các lý thuyết kinh tế về lao động - việc làm: Quan điểm của Karl Marx và Friedrich Engels về hàng hóa sức lao động, bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê và sự hình thành thị trường lao động tư sản; quan điểm của John Maynard Keynes về mối quan hệ giữa tiền lương với cung - cầu lao động (cầu lao động nghịch biến với tiền lương, cung lao động tỷ lệ thuận với tiền lương) và hệ số co giãn cầu; lý thuyết của Paul Samuelson về tiền công chiếm 80% thu nhập quốc dân và 4 nhân tố tác động đến cung lao động (quy mô dân số, tỷ lệ lao động trong dân số, số giờ làm việc bình quân/năm, năng lực và thiện chí của công nhân).
- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp luận: Cơ sở phương pháp luận chủ yếu là lý luận triết học Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận xã hội học dựa trên lý thuyết cơ cấu chức năng, kết hợp lý thuyết hệ thống, lý thuyết di động xã hội và lý thuyết giá trị.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích tài liệu thứ cấp có sẵn; điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu với các chỉ báo định lượng và định tính; phương pháp lô-gích - lịch sử; phương pháp so sánh và thống kê.
- Nguồn tư liệu thứ cấp: Dữ liệu từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan quản lý quận, huyện liên quan.
- Mẫu điều tra xã hội học sơ cấp: Khảo sát thực địa thu thập từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2004 tại hai địa bàn đại diện:
- Xã Bình Hưng Hòa (huyện Bình Chánh): Xã giáp ranh ba quận nội thành (Quận 6, Bình Tân, Tân Phú), cách trung tâm thành phố 10 km; chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của quá trình đô thị hóa.
- Xã Tân Thới Đông (huyện Hóc Môn): Xã giáp Quận 12 và huyện Củ Chi, cách trung tâm thành phố 22 km; là địa bàn ngoại thành tương đối thuần nông.
- Tổng số phiếu điều tra hợp lệ thu được là 378 phiếu, được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS tại Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần mở đầu, 03 chương nội dung chính (chia thành 10 tiết, tích hợp 40 bảng số liệu và 12 biểu đồ), phần kết luận - khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và 01 tập phụ lục dày 94 trang số liệu xử lý định lượng.
Chương I: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu những biến đổi cơ cấu lao động - việc làm
Chương I tập trung làm rõ bối cảnh lịch sử tư tưởng và xây dựng nền tảng lý luận cho luận án. Tác giả phân tích bước chuyển từ thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp (khi lao động chỉ được thừa nhận trong khu vực quốc doanh, tập thể và biên chế nhà nước) sang thời kỳ đổi mới kinh tế thị trường với sự đa dạng hóa hình thức sở hữu và quyền tự do giao kết việc làm.
Chương này trình bày chi tiết hệ thống khái niệm cốt lõi: lao động, việc làm, biến đổi xã hội, cơ cấu lao động - việc làm, thị trường lao động, nguồn nhân lực và nông thôn ngoại thành. Tác giả đi sâu phân tích hệ thống quan điểm xã hội học của Emile Durkheim về phân công lao động xã hội, sự kiện xã hội và hai hình thức đoàn kết cơ giới - hữu cơ; lý thuyết của Max Weber về bản chất giải nghĩa của xã hội học, 4 loại hình hành động xã hội, phương pháp loại hình lý tưởng và cấu trúc phân tầng xã hội đa chiều (kết hợp yếu tố kinh tế và phi kinh tế); lý thuyết cơ cấu chức năng, hệ thống xã hội (mô hình 4 chức năng thích ứng, hướng đích, duy trì khuôn mẫu, hòa nhập) và thuyết vai trò của Talcott Parsons. Đồng thời, chương I điểm lại các luận điểm kinh tế học của K. Marx - F. Engels, J. Keynes và Paul Samuelson về thị trường lao động, tiền lương và tương quan cung - cầu, làm cơ sở soi chiếu các vấn đề thị trường lao động tại Việt Nam.
Chương II: Tình hình biến đổi lao động - việc làm tại các vùng nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh
Chương II phản ánh thực trạng chuyển dịch kinh tế - xã hội và cơ cấu lao động trên địa bàn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh qua hai nguồn dữ liệu: số liệu thống kê tổng hợp và dữ liệu điều tra thực địa 378 bảng hỏi.
Ở phần dữ liệu tổng hợp, tác giả phân tích vị trí kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh trong vùng Đông Nam Bộ và cả nước, sự phân hóa giàu nghèo, và các biến đổi chung về lao động - việc làm. Luận án làm rõ thực trạng kinh tế nông thôn ngoại thành qua các khía cạnh: sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp dưới tác động của đô thị hóa, biến đổi trong sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, sự phát triển hoạt động dịch vụ - thương mại, và sự đa dạng hóa quan hệ sản xuất. Đi kèm với đó là tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng ruộng đất, biến động cơ cấu lao động theo ngành nghề, áp lực từ dòng lao động nhập cư, và các vấn đề tiền lương, tiền công, thu nhập của cư dân nông thôn.
Ở phần dữ liệu điều tra xã hội học, tác giả phân tích cụ thể thực trạng việc làm, cơ cấu nghề nghiệp, khả năng tìm kiếm việc làm và xu hướng chuyển đổi nghề của cư dân ven đô thông qua việc so sánh hai địa bàn có mức độ đô thị hóa khác nhau:
| Địa bàn khảo sát |
Huyện trực thuộc |
Vị trí địa lý và khoảng cách |
Đặc điểm kinh tế - xã hội chủ yếu |
| Xã Bình Hưng Hòa |
Huyện Bình Chánh |
Giáp ranh Quận 6, Bình Tân, Tân Phú; cách trung tâm thành phố 10 km |
Địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp của đô thị hóa, chuyển dịch đất đai mạnh, ngành nghề phi nông nghiệp phát triển |
| Xã Tân Thới Đông |
Huyện Hóc Môn |
Giáp ranh Quận 12, huyện Củ Chi; cách trung tâm thành phố 22 km |
Địa bàn ngoại thành mang tính chất tương đối thuần nông, tốc độ đô thị hóa chậm hơn |
Số liệu điều tra xã hội học chỉ ra sự phân hóa rõ nét: người dân tại địa bàn đô thị hóa cao đối mặt với tình trạng mất đất canh tác, chuyển sang làm thuê, buôn bán nhỏ dịch vụ hoặc công nhân thủ công, chịu áp lực cạnh tranh từ lao động nhập cư; trong khi cư dân vùng thuần nông gặp khó khăn về khả năng tiếp cận thị trường lao động công nghiệp - dịch vụ do hạn chế về trình độ văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp.
Chương III: Những nhân tố tác động tới sự biến đổi cơ cấu lao động - việc làm ở nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh
Chương III phân tích các nhóm nhân tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động - việc làm và đưa ra các dự báo đến năm 2010. Các nội dung chính gồm:
- Đường lối, chính sách và dự báo biến đổi thị trường lao động: Tác động từ chủ trương của Đảng, Nhà nước và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh; dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm mạnh tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đến năm 2010; sự biến đổi về chiến lược tìm kiếm việc làm của người lao động.
- Biến đổi định hướng giá trị việc làm của thanh niên ngoại thành: Tác giả khảo sát thái độ, động cơ và định hướng lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên ngoại thành qua ba nhóm định hướng cụ thể:
- Định hướng về sự ổn định của việc làm.
- Định hướng việc làm có thu nhập cao.
- Định hướng việc làm phù hợp với sở thích và chuyên môn.
- Đánh giá chính sách xã hội và chính sách việc làm: Phân tích những kết quả và vướng mắc trong hệ thống chính sách giải quyết việc làm hiện hành; chỉ rõ những khó khăn đặc thù trong việc giải quyết lao động - việc làm tại nông thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh (trình độ học vấn thấp, thiếu tay nghề chuyên môn, thiếu vốn tự tạo việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp cưỡng bức do thu hồi đất nông nghiệp).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu rõ ba đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Về mặt học thuật: Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề cơ cấu lao động - việc làm ở nông thôn ngoại thành dưới giác độ tiếp cận xã hội học, kết hợp khung lý thuyết cơ cấu chức năng, hành động xã hội và phân tầng xã hội với các kỹ thuật khảo sát thực địa.
- Về mặt nhận thức quy luật: Luận án làm rõ vấn đề có tính quy luật là quá trình đô thị hóa chuyển hóa lao động nông thôn và xã hội nông thôn thành "nhóm quá độ"; đồng thời chỉ ra nghịch lý của quá trình đô thị hóa tự phát khiến người nông dân có nguy cơ mất việc làm ngay trên chính mảnh đất quê hương của mình khi đất sản xuất bị chuyển đổi mục đích.
- Về mặt khái niệm và giải pháp: Lần đầu tiên luận án đưa ra và luận giải khái niệm "Kinh tế hộ bền vững" như một phương thức phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo chỗ làm việc ổn định, lâu dài cho cư dân nông thôn ngoại thành.
Hệ thống giải pháp và khuyến nghị chính sách được luận án đề xuất tập trung vào ba nhóm chính:
- Nhóm giải pháp tạo chỗ làm việc và giải quyết việc làm bền vững:
- Phát triển mô hình kinh tế hộ bền vững tại các huyện ngoại thành.
- Tổ chức và củng cố các hình thức kinh tế hợp tác phù hợp với điều kiện mới.
- Phát triển các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn các huyện ngoại thành nhằm thu hút lao động tại chỗ.
- Hoàn thiện giải pháp chính sách về vốn (tạo điều kiện tiếp cận tín dụng ưu đãi, quỹ hỗ trợ việc làm).
- Thực hiện giải pháp chính sách về chuyển giao kỹ thuật và công nghệ sản xuất.
- Nhóm giải pháp về chính sách đào tạo và hướng nghiệp:
- Nâng cao trình độ văn hóa phổ thông cho người lao động nông thôn.
- Đổi mới công tác tổ chức dạy nghề, gắn chương trình đào tạo nghề với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp và quá trình chuyển đổi ngành nghề của đô thị.
- Nhóm giải pháp về chính sách tiền lương: Hoàn thiện cơ chế phân phối thu nhập và tiền lương, bảo đảm tiền công phản ánh đúng giá trị sức lao động, tạo động lực kinh tế thúc đẩy thị trường lao động phát triển lành mạnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện nghiên cứu được tác giả trình bày:
- Mẫu khảo sát điều tra xã hội học trực tiếp (378 phiếu) mới chỉ thực hiện tại 02 xã đại diện thuộc 02 huyện (xã Bình Hưng Hòa thuộc huyện Bình Chánh và xã Tân Thới Đông thuộc huyện Hóc Môn), chưa thể bao quát điều tra sơ cấp toàn bộ 05 huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh (Củ Chi, Nhà Bè, Cần Giờ).
- Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa tập trung vào các năm 2004 - 2005; các phân tích chủ yếu phản ánh giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tại vùng ven đô Thành phố Hồ Chí Minh.
Các hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở:
- Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra xã hội học định lượng sang các huyện ngoại thành còn lại, đặc biệt là các vùng đặc thù sinh thái như Cần Giờ hay vùng thuần nông Củ Chi.
- Tiếp tục theo dõi, kiểm chứng các dự báo biến đổi cơ cấu lao động - việc làm sau mốc năm 2005 và giai đoạn đến năm 2010 để đánh giá tác động dài hạn của các chính sách đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ ngoại thành.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại các giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Xã hội học: Cung cấp tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Xã hội học lao động, Xã hội học nông thôn và Xã hội học đô thị. Khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết Durkheim (đoàn kết cơ giới/hữu cơ), Weber (hành động xã hội/phân tầng đa diện) và Parsons (cơ cấu chức năng) là một tài liệu tham khảo có giá trị phương pháp luận trong việc thiết kế các đề tài nghiên cứu về biến đổi cơ cấu xã hội.
- Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho các cơ quan quản lý tại Thành phố Hồ Chí Minh (đặc biệt là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền các quận, huyện ven đô) trong việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất, chính sách bồi thường thu hồi đất gắn với đào tạo nghề và chiến lược giải quyết việc làm chuyển tiếp cho người nông dân mất đất.
- Đối với cộng đồng dân cư nông thôn: Cung cấp cơ sở thực tế giúp các tổ chức đoàn thể địa phương định hướng cho hộ gia đình và thanh niên nông thôn tự tạo việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp và xây dựng kinh tế hộ gia đình ổn định.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu khảo sát thực địa của luận án được chọn tại những địa bàn nào và có quy mô bao nhiêu?
Luận án tiến hành điều tra bảng hỏi xã hội học từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2004 tại hai xã đại diện: xã Bình Hưng Hòa (huyện Bình Chánh, địa bàn giáp ranh Quận 6, Bình Tân, Tân Phú, cách trung tâm 10 km, chịu tác động trực tiếp của đô thị hóa) và xã Tân Thới Đông (huyện Hóc Môn, giáp Quận 12 và Củ Chi, cách trung tâm 22 km, mang tính thuần nông). Tổng số phiếu khảo sát hợp lệ là 378 phiếu, được xử lý bằng chương trình SPSS.
2. Luận án vận dụng quan điểm của Emile Durkheim như thế nào để nhìn nhận xã hội nông thôn ngoại thành?
Tác giả vận dụng khái niệm "đoàn kết cơ giới" và "đoàn kết hữu cơ" của Durkheim để xác định nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hóa là một "nhóm quá độ". Nhóm xã hội này không còn duy trì sự thuần nhất, đơn điệu của kiểu xã hội cơ học truyền thống nhưng cũng chưa hoàn toàn đạt tới trình độ chuyên môn hóa chức năng cao và tương tác khế ước pháp lý của xã hội hữu cơ hiện đại.
3. Khái niệm "Kinh tế hộ bền vững" có vị trí như thế nào trong luận án?
Đây là một trong những đóng góp mới được luận án xác định. Khái niệm này lần đầu tiên được luận án đề xuất như một giải pháp phương thức phát triển kinh tế - xã hội nhằm hỗ trợ các hộ nông dân ngoại thành tổ chức lại sản xuất, tiếp cận nguồn vốn, kỹ thuật và thị trường để tự tạo chỗ làm việc ổn định, lâu dài ngay trên địa bàn sinh sống trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp.
4. Luận án chỉ ra những định hướng giá trị việc làm nào của thanh niên nông thôn ngoại thành?
Qua khảo sát tại Chương III, luận án xác định sự biến đổi định hướng giá trị việc làm của thanh niên ngoại thành qua ba nhóm xu hướng cụ thể: định hướng việc làm ổn định, định hướng việc làm có thu nhập cao, và định hướng việc làm phù hợp với sở thích cùng trình độ chuyên môn cá nhân.
5. Cơ cấu phân tầng giai cấp trong nghiên cứu cơ cấu lao động được tác giả tiếp thu từ Max Weber gồm những thành phần nào?
Luận án tiếp thu mô hình phân tầng của Weber, phân biệt hai nhóm cơ bản: nhóm sở hữu tài sản (nhà tư sản đầu tư vốn và tư sản cho thuê tài sản kiếm lời) và nhóm không có tài sản phải bán sức lao động. Nhóm bán sức lao động gồm ba bộ phận: công nhân lao động thô sơ không có tay nghề ("công nhân cổ xanh"), công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn ("công nhân cổ trắng"), và nhóm lao động làm dịch vụ cùng quản lý.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Hải Thanh là công trình nghiên cứu xã hội học chuyên sâu về sự biến đổi cơ cấu lao động - việc làm tại vùng nông thôn ven đô Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới và đô thị hóa. Tác phẩm đã hệ thống hóa các khung lý thuyết xã hội học kinh điển và hiện đại để làm sáng tỏ bản chất của nông thôn ngoại thành như một "nhóm quá độ", đồng thời phân tích thực trạng mất việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp của cư dân thông qua cuộc khảo sát 378 phiếu điều tra tại Bình Chánh và Hóc Môn. Các phát hiện thực tiễn và nhóm khuyến nghị về kinh tế hộ bền vững, đào tạo nghề và hoàn thiện chính sách tiền lương trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu xã hội học lao động và công tác quản lý đô thị.