CHƯƠNG I C ơ SỞ LÝ L U Ậ N VÀ PHƯƠNG P H Á P L U Ậ N NGHIÊN c ứ u NHỮNG BIẾN ĐỔI C ơ CÂU LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM Trước đây, trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, lao động - việc làm chỉ được xã hội thừa nhận và tôn trọng khi nằm trong phạm vi những mối quan hệ kinh tế quốc doanh hay kinh tế tập thể và người lao động cũng cần phải hoặc hướng tới mục tiêu là lao động trong biên ch ế Nhà nước. Chỉ từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với đường lối đổi mới toàn diện, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, cho phép tư nhân trong và ng'oài nước bỏ vốín đầu tư sản xuất kinh doanh và thuê mướn lao động, thì những nhận thức về lao động - việc làm đã có những thay đổi căn bản từ lý thuyết đến thực tiễn. M ột sô' khái niệm được dùng trong luận án 1. Lao động Theo từ điển Tiếng V iệt thông dụng: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần” (trang 553).
Điều 55 Hiến pháp sửa đổi năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có k ế hoạch tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người lao động. Như vậy, lao động là một khái niệm rộng, dùng để chỉ hoạt động có mục đích của con người nhằm sáng tạo ra sản phẩm (vật chất, tinh thần, văn hóa) để duy trì sự tồn tại của xã hội nói chung. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Việc làm Việc làm mang những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Việc làm cũng được dùng để chỉ những việc khác nhau trong những điều kiện và bối cảnh khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: “ Việc làm: ]. Hành động, điều đã làm, phải làm.
Công việc được giao theo nghề nghiệp, có thù lao và chế độ” (trang 1262). Theo từ điển tiếng Pháp: “Emploi: 1. Việc sử dụng một cái gì đó. Phướng thức dùng, cách sử dụng.
Lao động được trả công”. Cả hai từ điển đều có sự thông nhất ở ý thứ hai, cả hai đều nhấn mạnh về khía cạnh “được trả công” của khái niệm việc làm. Theo Thông tư hướng dẫn về điều tra người chưa có việc làm của Liên bộ Lao động - Tổng cục Thống kê năm 1986 thì: “ Việc làm là dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, nhằm đem lại thu nhập cho gia đình”. Hộ Luật lao động được Quốc hội khoá 9 thông qua ngày 23.1994 tại điều 13 khẳng định: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật câm đều được thừa nhận là việc làm”.
Như vậy, việc làm bao gồm ha khía cạnh: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Là hoạt động nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần. Là hoạt động có mục đích và có thu nhập (bằng tiền hoặc hiện vật). Không bị pháp luật cấm. Ta thấy lao động và việc làm là những khái niệm có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không hoàn toàn giông nhau.
Việc làm có giới hạn về sô" lượng nguồn lao động, có giới hạn về sô" lượng và nhân khẩu nhưng sức lao động thì không. Việc làm thể hiện mối quan hệ giữa con người với những chỗ làm cụ thể, !à những giới hạn cần thiết trong đó lao động diễn ra. Việc làm là điều kiện cần thiết để thoã mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người, trong đó có biểu hiện cả vấn đề tổ chức, văn hoá ứng xử, v. về giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tô" con người và yếu tô" vật chất trong quá trình sản xuất.
Như vậy, việc làm là một phạm trù tổng hợp, liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, nó thuộc loại những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội. Biến đổi x ã h ộ i Biến đổi xã hội là một trong những vấn đề trung tâm của xã hội học, đã được các nhà kinh điển xã hội học bàn đến rất nhiều khi xây dựng luận thuyết của mình. Ngày nay, các nhà xã hội học khai thác vấn đề này chủ yếu bằng cách phân tích tỉ mỉ những quá trình biến đổi cụ thể và phát triển các định nghĩa về biến đổi. Biến đổi xã hội là những sự thay đổi diễn ra trong khuôn mẫu tổ chức xã hội, cấu trúc, thiết chế và đời sông văn hóa xã hội.
Biến đổi xã hội bao trùm một loạt hiện tượng rất đa dạng, từ những biến đổi ngắn hạn cho tới những thay đổi dài hạn, những đổi thay trên quy mô lớn hay quy mô nhó, từ câp độ toàn cầu cho tới cấp độ gia đình. Biến đổi có thể khởi xướng từ phía chính phủ thông qua hoạt động lập pháp hay hành pháp; từ phía công dân khi họ tổ chức lại thành các phong trào xã hội; từ việc truyền bá văn hóa, tư tưỏng, hay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 do các hệ qua có hoặc không có chủ định của khoa học công nghệ. Biến đổi xã hội diễn ra còn đo yếu tô" môi trường hay do những chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế. Sự biến đổi cơ cấu lao động - việc làm là một quá trình của biến đổi xã hội.
Quá trình biến đổi cơ cấu lao động - việc làm chịu sự tác động của nhiều nhân tô". Trước hết, đỏ là đổi mới. Đổi mới là sự đề xuất một tư tưỏng, một kỹ thuật hay một biện pháp nhằm thay thế cái cũ hoặc làm cho cái cũ tốt lên ( hoặc xấu đi). Đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tô"chủ yếu dẫn đến sự biến đổi cđ cấu lao động - việc làm ở nước hiện nay.
Thứ hai, câng nghiệp hóa là quá trình sử dụng máy móc, kỹ thuật, thay thế dần lao động thủ công, làm chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu lao động - nghề nghiệp và các quan hệ xã hội. Nhân tô" thứ ha là đỏ th ị hóa. Đô thị hóa là quá trình di CƯ từ nông thôn ra thành thị, là quá trình lan Iruyền, phổ biến những giá trị, lốỉ sông, nghề nghiệp của CƯ dân đô thị phủ dần lên các vùng nông thôn. Quá trình này tất yếu sẽ làm biến đổi mạnh mẽ cd cấu xã hội, trong đó có cơ cấu lao động - việc làm.
Cơ cấu lao động- việc làm Theo quan điểm xã hội học, cơ cấu x ã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một hệ thông xã hội nhất định, biểu hiện như là một sự thông nhất tưđng đói bồn vững của các nhân tô", các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của hệ thống xã hội đó. Cơ cấu xã hội có ba nội dung chủ yếu: Cơ cấu giai cấp xã hội; Cđ cấu lao động nghề nghiệp ; VỊ thế, vai trò xã hội. Khi cơ cấu xã hội biến đổi thì các bộ phận trén cũng biến đổi và ngƯỢc lại, mỗi sự biến đổi của các thành tố sẽ kéo theo sự biến đổi của cơ cấu xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Như vậy, cơ cấu lao động - việc làm là một bộ phận của cơ cấu xã hội, hơn thế nữa, là bộ phận có quan hệ mật thiết với phân tầng xã hội, vị thế, vai trò và các thiết chế xã hội.
Cơ cấu lao động - việc làm là tổng thể kết cấu, hình thức tổ chức hoạt động lao động sản xuất - nghề nghiệp của một xã hội nhất định. Nổ phản ánh không chỉ là những dấu hiệu định lượng về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và hoạt động nghề nghiệp xã hội ma còn phản ánh dâu hiệu định tính về thái độ, hành vi, chuẩn mực văn hóa của cá nhân và nhóm xã hội. Thị trường lao động - việc làm Khái niệm thị trường được hiểu là tập hợp nhu cầu của người tiêu dùng về một loại hàng hoá nào đó và đồng thời là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hoá bằng tiền tệ. Thị trường lao động, theo Adam Smith là một không gian trao đổi dịch vụ lao động ( hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sở hữu lao động) và một bên là người bán sức lao động (người lao động) Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX khẳng định: Thị trường lao động "là thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động trong một phạm vi nhất định" Thị trường lao động được hình thành bởi cung lao động và cầu lao động.
Chủ thể cầu lao động (các doanh nghiệp) chính là chủ thể tạo ra việc làm. Ở thị trường lao động, cái cần mua và bán là sức lao động - cái sản sinh ra công năng hay trí năng để sản xuất hoặc kinh doanh. Giá trị của hàng hoá sức lao động đòi hỏi phải trả ngang giá với các tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động, hao hàm cả các yếu tô" tinh thần và lịch sử, yêu tô đào tạo, giáo dục và gia đình. Mặt khác, tính nhân văn của lao động còn phải xét về nhiều mặt: chính trị, đạo đức, văn hoá, xã hội, pháp luật v.
Vì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 vậy lao động - việc làm không chỉ đơn thuần là khái niệm kinh tế học mà còn là vấn đề của xã hội học. Thị trường lao động chỉ có thể hình thành khi có đủ các yếu tô": có nền sản xuất hàng hoá theo cơ c h ế thị trường, có định chê pháp luật cho phép tồn tại thị trường lao động, người lao động thật sự có quyền sở hữu sức lao động của inình và ị họ không có sở hữu một loại tư liệu sản xuất nào có khả năng nuôi sống bản thân và gia dinh. Khi đó sức lao động mới có điều kiện trở thành hàrm hoá, thị trường lao động mới có cơ sở để hình thành và phát triển. Từ các yếu tô" này với thực trạng kinh tế - xã hội từ 1987 trở lại đây cho phép chúng ta khẳng định ở Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã hình thành và tồn tại thị trường lao động.