CHƯƠNG I - ÐẠI CƯƠNG VỀ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Chương này trang bị cho người học những nhận thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu Nông nghiệp nói chung và Nông học nói riêng như các bước cần ñược tiến hành trong quá trình nghiên cứu khoa học ñể trả lời câu hỏi mà thực tế ñặt ra. Vai trò của công tác nghiên cứu khoa học nông nghiệp Theo nghĩa rộng của quan ñiểm triết học duy vật: "Thí nghiệm là một phần của sự nghiệp sản xuất trong xã hội loài người, nhằm khám phá ra các quy luật khách quan của thế giới vật chất với mục ñích nắm vững và bắt các ñiều bí mật của thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con người”. Con người ñã biết làm thí nghiệm (Experiment) từ bao giờ? Như chúng ta ñã biết, từ cổ xưa loài người ñã phải kiếm ăn ñể sinh sống, do ñó, con người phải biết lựa chọn, so sánh ñể tìm kiếm thức ăn. Song cũng chính từ ñó mà họ ñã tạo ra một kho tàng các kinh nghiệm quý báu thúc ñẩy xã hội phát triển.
Khi xã hội tiến lên ñòi hỏi con người cũng phải nắm bắt, vận dụng các quy luật khách quan của tự nhiên có hiệu quả hơn. Muốn làm ñược ñiều này cần phải có phương pháp và từ ñó phương pháp thí nghiệm ra ñời. Nghiên cứu khoa học là quá trình nghiên cứu và giải thích ñến cùng các hiện tượng khoa học xuất phát từ lý luận và thực tiễn. Từ ñó sẽ ứng dụng các kết quả nghiên cứu ñược vào thực tiễn sản xuất phục vụ cho cuộc sống con người.
Nghiên cứu khoa học nói chung và khoa học nông nghiệp nói riêng hay cụ thể hơn là nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực Nông học phụ thuộc rất mật thiết với ñiều kiện tự nhiên và các ñiều kiện kinh tế - xã hội nên việc vận dụng các phương pháp và kết quả nghiên cứu của các nước trên thế giới có tính kế thừa chọn lọc cho phù hợp với ñiều kiện cụ thể của Việt Nam là rất cần thiết. Ngay trong phạm vi của ñất nước chúng ta cũng không thể có tính ñồng nhất về các ñiều kiện cụ thể, cho các thực nghiệm nông nghiệp, vậy nhiệm vụ của các nhà khoa học nông nghiệp phải nghiên cứu và ñề xuất ñược những biện pháp kỹ thuật cụ thể, thích hợp cho vùng nơi mình phụ trách nhằm khai thác bền vững và hiệu quả các ñiều kiện ấy. Ðể có kết quả nghiên cứu ñúng và khách quan cần phải có kiến thức tổng hợp của nhiều lĩnh vực: toán học, hoá học, thổ nhưỡng, khí tượng, sinh học và kinh tế học và phương pháp nghiên cứu ñúng, khách quan, phù hợp với các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và cả tính sáng tạo ñúng ñắn. Các bước trong quá trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp Ðể có thể xây dựng ñược một ñề tài nghiên cứu khoa học nông nghiệp nói chung và cụ thể hơn nữa là xây dựng ñược một thí nghiệm về một biện pháp kỹ thuật nào ñó như: Giống, phân bón, tưới nước, thời vụ hay bảo vệ thực vật.
cho một vùng ñòi hỏi nhà khoa học (người làm công tác nghiên cứu) cần phải tiến hành theo các bước sau ñây. Thu thập thông tin (Bước 1) Mục ñích của thu thập thông tin là giúp cho nhà khoa học hiểu rõ ñược vấn ñề sẽ ñược nghiên cứu ñã có ai, nơi nào nghiên cứu chưa và nếu có thì vấn ñề ñược nghiên cứu ñến ñâu. Xem xét tính khả thi ñể từ ñó hình thành hướng nghiên cứu thích hợp. Nội dung thông tin thu thập gồm: https://sites.com/site/lophocphank57vnua/ Trường ñại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình Phương pháp thí nghiệm ------------------------------------------- 3 Lớp Học Phần VNUA - Khoa Nông Học - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam * Các tài liệu có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới vấn ñề dự ñịnh nghiên cứu.
* Kinh nghiệm sản xuất của người dân. Việc thu thập các thông tin bao gồm: - Ðọc các tài liệu tại thư viện cụ thể là các sách báo gồm các giáo trình, sách chuyên khảo, sách hướng dẫn phổ biến khoa học kỹ thuật, các tạp chí khoa học, các kết quả nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học khác. Các nguồn số liệu này bao gồm cả trong nước và trên thế giới. - Tham dự các hội nghị, hội thảo và các hoạt ñộng khoa học khác.
- Tìm hiểu thực tiễn sản xuất của nông dân ñể thấy rõ kinh nghiệm cũng như biện pháp xử lý của nông dân với vấn ñề sẽ ñược nghiên cứu. - Thu thập thông tin qua các phương tiện thông tin ñại chúng khác như: Vô tuyến truyền hình, ñài phát thanh, báo khoa học, báo nông thôn cũng như các loại báo khác. Xây dựng giả thiết khoa học (Bước 2) Giả thiết khoa học là những giả ñịnh mà theo nhà khoa học là có nhiều khả năng ñúng nhất về một sự vật hay một hiện tượng nào ñó. Nó giúp cho ta có thể phát hiện và giải thích những cái mới mà những giả thiết khác trước ñây chưa giải thích ñược.
Vì vậy, giả thiết khoa học không ñược phép chung chung mà phải cụ thể, phải thực sự xuất phát từ các nguồn thông tin thu thập ñược (mục 1. Giả thiết này cũng chính là xuất phát ñiểm ñể xây dựng kế hoạch nghiên cứu thực nghiệm. Giả thiết khoa học phải tránh viển vông, song không nên sợ cái mới, phải xuất phát từ quy luật khách quan của tự nhiên, ñầu tư công sức, trí tuệ ñể tìm hiểu cái mới, thậm chí có thể khó khăn gai góc. Có như vậy con người mới có thể tìm ra ñược cái mới, cái ñổi thay trong khoa học và có thể cắt nghĩa nó hoàn toàn có cơ sở, theo ñúng logic của các quá trình các mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong tự nhiên ñầy bí hiểm và ña dạng.
Chứng minh giả thiết khoa học (Bước 3) Chứng minh giả thiết khoa học là quá trình quan sát, quá trình làm thí nghiệm. Trên cơ sở các số liệu (các chỉ tiêu nghiên cứu thể hiện qua kết quả theo dõi hay quan sát) có ñược và suy luận nhằm gạt bỏ cái không ñúng, sàng lọc lấy cái ñúng có tính quy luật và những cái có thể coi là chân lý. Kiểm chứng giả thiết khoa học có hai cách, ñó là: Quan sát hay ñiều tra và làm thí nghiệm thực nghiệm. * Quan sát hay ñiều tra là việc tìm hiểu, theo dõi thực tế, ñây là cả một quá trình bắt nguồn từ việc thu thập những cái ñơn giản, những cái ñã có trong thực tế sản xuất và trong tự nhiên, giúp ta phân biệt ñược cái ñặc trưng của sự việc, so sánh giữa các sự việc và tiến ñến suy luận xây dựng căn cứ khoa học cho các sự việc ñó.
Hay nói một cách khác: quan sát là tìm hiểu, mô tả diện mạo bên ngoài của sự việc hay hiện tượng ñể từ ñó suy ra bản chất của chúng dựa trên cơ sở nhận thức của người nghiên cứu. Như vậy, quan sát là ñi từ bên ngoài sự việc vào trong nhận thức. Do ñó, yêu cầu của quan sát là "kiên trì", chỉ có kiên trì mới có thể hy vọng thu ñược những thông tin, những tài liệu và có như vậy tài liệu mới ñầy ñủ, khách quan và mang tính chính xác. Quan sát (ñiều tra) phải ñược thực hiện sao cho ñại diện, khách quan ñể ñảm bảo ñộ tin cậy của những thông tin thu ñược về ñối tượng nghiên cứu.
* Làm thí nghiệm Thí nghiệm là những công việc mà con người tự xây dựng ñể tạo ra những hiện tượng làm thay ñổi một cách nhân tạo bản chất của sự việc nhằm phát hiện ñược ñầy ñủ bản chất và https://sites.com/site/lophocphank57vnua/ Trường ñại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình Phương pháp thí nghiệm ------------------------------------------- 4 Lớp Học Phần VNUA - Khoa Nông Học - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam nguyên nhân (nguồn gốc) của hiện tượng hay sự việc ñó, cũng như nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa các hiện tượng (hay các sinh vật). Như vậy, thí nghiệm là xuất phát từ những nhận thức của con người thông qua những giả thiết khoa học (ñã nêu mục 1.), sau ñó xác minh bằng hành ñộng của mình (thực hiện thí nghiệm, ño ñếm, quan sát các chỉ tiêu trên ñối tượng thí nghiệm). Quá trình xác minh (làm thí nghiệm có thể ñược thực hiện ở trong phòng thí nghiệm, trong các nhà lưới, nhà kính, các chậu, vại, ô xi măng hay trên ñồng ruộng ) sẽ ñưa tới nhận thức chặt chẽ hơn. Như vậy, con người không phải chỉ chờ ñợi vào những cái ñã có sẵn mà ngược lại, có thể tự mình tạo ra những ý tưởng cụ thể, thực hiện ý tưởng ñó ñể bắt ñối tượng nghiên cứu phải tự bộc lộ và phát sinh tính quy luật của mình.
Hay có thể nhận thức theo nghĩa rộng mà Paplôp ñã nói "Quan sát là thu thập những gì mà thiên nhiên cho ta, còn thí nghiệm là lấy từ thiên nhiên những gì mà ta muốn". Biện luận ñể rút ra kết luận và xây dựng lý thuyết khoa học (Bước 4) Thông qua các kết quả của quan sát, ñiều tra cũng như thí nghiệm, người làm nghiên cứu thực hiện việc kiểm chứng giả thiết khoa học ñể rút ra những kết luận và ñánh giá vấn ñề mà mình quan tâm, không thể chỉ nghiên cứu mà bỏ qua công tác biện luận và rút ra kết luận. Tất nhiên ñây là công việc không hề ñơn giản. Ðề xuất ra ñược những kết luận và biện luận cho các kết luận ñó ñòi hỏi nhà khoa học phải có trình ñộ kiến thức và hiểu sâu sắc ñối tượng mình nghiên cứu.
Có như vậy, các kết luận và biện luận mới khách quan có cơ sở khoa học phù hợp với môi trường và hệ sinh thái cụ thể của ñối tượng ñó. Nếu như các nhà khoa học chỉ dừng lại ở việc rút ra những kết luận trực tiếp từ thí nghiệm thì những kết luận ñó chỉ mang tính chất kinh nghiệm cụ thể của duy nhất một lần thí nghiệm nên chưa thể ứng dụng rộng rãi trong thực tế sản xuất ñược. Do ñó, nhiệm vụ tiếp của các nhà khoa học là từ những kết quả của thí nghiệm ñược lầm lại nhiều lần tập hợp thành các kết luận và biện luận nhằm tìm ra chân lý, tìm ra tính quy luật ñể nâng lên thành lý luận khoa học. Các nhóm phương pháp thí nghiệm trong nông nghiệp Hiện nay trong thực tiễn nghiên cứu của ngành nông học người ta ñã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu và ñược chia cụ thể như sau: 1.
Nhóm các thí nghiệm cứu trong phòng Ðây là loại nghiên cứu mà những thí nghiệm ñược thực hiện trong các phòng thí nghiệm.