phần mở đầu cuốn Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, các tác giả khẳng định sự quen thuộc và sống động của biểu tượng đối với cuộc sống con người: “Nói là chúng ta đang sống trong một thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói có một thế giới biểu tượng sống trong ta” [Jean Chevalier, Alain Gheerbran 1997: XIV]. Biểu tượng đi vào đời sống của con người như một thành tố. Vì vậy, Leslie A White cho rằng “Ngày nay, chúng ta bắt đầu nhận ra và đánh giá cao thật sự rằng biểu tượng là đơn vị cơ bản của hành vi và nền văn minh của con người. Tất cả hành vi của con người khởi đầu từ việc sử dụng 15 biểu tượng”1 [Leslie A White 1940: 451].
Ông cũng cho rằng “Biểu tượng là đơn vị cơ bản của mọi hành vi ứng xử của con người”2 [Leslie A White 1940: 451]. Như vậy, mở rộng hơn thì biểu tượng là phương thức nhận thức của con người, nó biểu thị toàn bộ tâm cách cũng như tính cách của một dân tộc, như Leslie A White đã nói “Hành vi của con người là hành vi có tính biểu tượng, hành vi có tính biểu tượng là hành vi của con người”3 [Leslie A. Biểu tượng thức tỉnh những sự biểu lộ trong khi ngôn ngữ chỉ giải thích, là phương tiện giao tiếp. Biểu tượng huy động tất cả những sợi dây tình cảm trong tâm thức con người và hướng đến sự bí mật của chiều sâu tâm hồn.
Hoạt động sáng tạo giá trị văn hóa có thể xuất phát từ những tư tưởng, ý nghĩa mà tạo ra những sự vật, khái niệm, hoặc ngược lại, xuất phát từ những sự vật có sẵn để tìm một tư tưởng, ý nghĩa thích hợp gán cho nó. Hoạt động nối kết một biểu hiện vật chất với một ý nghĩa tinh thần như thế là hoạt động biểu trưng. Hoạt động biểu trưng tạo ra sản phẩm là biểu tượng. “Biểu tượng là tổng thể của hình ảnh được trưng ra (cái biểu hiện) cùng mối quan hệ của nó với khái niệm, tư tưởng mà nó thay thế (cái được biểu hiện, ý nghĩa)” [Trần Ngọc Thêm 2007: 18].
Nhờ có mối liên hệ với các được biểu hiện và cùng với nó mà cái biểu hiện trở thành biểu tượng. Nhờ có mối liên hệ với ý nghĩa và cùng với nó mà một sự vật trở thành giá trị văn hóa [Trần Ngọc Thêm 2007: 19]. Vì vậy mọi giá trị do con người sáng tạo ra đều là mang tính biểu trưng và đều là những biểu tượng. Biểu tượng luôn mở rộng sự liên tưởng để trí tuệ có thể truy tìm, khám phá ra những ý nghĩa còn chìm khuất trong chiều sâu nhận thức của con người biểu tượng luôn mang tính "đa nghĩa" và nó bao hàm rộng hơn cái ý nghĩa mà người ta gán cho nó.
Quá trình "biểu tượng hoá” (symbolization) chính là quá trình nội nhập (introjection) văn hoá vào đời sống, điều đó nói lên tính chất cách mạng của quá 1 Today, we are beginning to reliaze and to appreciate the fact that the symbol is the basic unit of all human behavior and civilization. All human behavior orginaties in the use of symbols. 2 The symbol: The origin and basic of human behavior. 3 Humnan behavior is the symbolic behavior; symbolic behavior is human behavior.
16 trình tiến hoá của bộ não người. Sự "biểu tượng hoá" đã tạo nên một chiều kích (dimension) mới trong cuộc sống của con người, một khi mọi sự vật qua lăng kính nhận thức, đều có sự biến hoá và có sự tiếp nhận những "ý nghĩa" mới thông qua các hệ thống biểu tượng. Biểu tượng văn hóa là những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, ý niệm…) có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp hệ thống đặc trưng cho những nền văn hóa nhất định. Văn hóa và biểu tƣợng Hệ giá trị xã hội nào cũng đều nhằm vào sự thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, nó được biểu hiện trở thành các biểu tượng văn hoá - các khuôn mẫu và chuẩn mực văn hoá.
Sự hình thành và phát triển văn hoá luôn dựa vào năng lực của con người trong việc nhận thức và sáng tạo ra các loại hình ngôn ngữ kí hiệu - biểu tượng (Symbol). Trong mọi nhu cầu của đời sống xã hội thì nhu cầu văn hoá là nhu cầu cao nhất - nhu cầu giải trí và sáng tạo ra các tác phẩm văn hoá. Sự đa dạng của văn hoá biểu hiện tính phong phú và tính nhiều nghĩa của thế giới biểu tượng. Biểu tượng được coi như là công cụ, phương thức của tư duy trong tiến trình nhận thức của con người.
Nó là con đẻ của sự liên tưởng và tưởng tượng, giúp cho con người khám phá ra thế giới hiện thực đầy ý nghĩa. Nhiều nhà nhân học văn hoá còn cho rằng “đơn vị cơ bản” của văn hoá chính là biểu tượng - vật hàm chứa thông tin, và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của loài người. Quá trình sáng tạo ra hệ thống các biểu tượng cũng là quá trình “khách thể hoá” những “năng lực bản chất người” để tạo nên thế giới văn hoá. Có thể xem văn hoá là toàn bộ thế giới thông tin, là biện pháp nhằm tổ chức, bảo vệ và truyền bá thông tin.
Như vậy, biểu tượng chính là hình thức ngoại diên của văn hoá, còn hệ thống ý nghĩa nằm bên trong mỗi biểu tượng là nội dung cơ bản của nó. Văn hoá được coi như là một “văn bản” các hệ thống biểu tượng. 17 Vai trò của biểu tượng là nhân tố gợi mở cho ta phát hiện và sáng tạo ra các giá trị mới - giá trị văn hoá, bởi biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm của đời sống văn hoá. Nó là hạt nhân tâm lý cho sự tưởng tượng, làm bộc lộ ra những bí mật của cõi vô thức và trở thành động lực cho sự sáng tạo của thế giới hữu thức… Sau cùng, biểu tượng còn hình thành nên các “khuôn mẫu văn hoá” - khuôn mẫu hành vi trong mọi ứng xử của con người.
Các khuôn mẫu này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong đời sống xã hội, theo chiều dài lịch sử đã trở thành nếp nghĩ, lối sống, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng dân tộc khác nhau. Dựa vào năng lực “tượng trưng hoá" của con người và xem biểu tượng như là một hình thái biểu hiện “ngôn ngữ đặc trưng” của văn hoá, Toàn thư quốc tế về phát triển văn hoá4 của UNESCO đã đưa ra định nghĩa văn hoá như sau: "Văn hoá là tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt" [Nhiều tác giả 1992: 164].Levy-Strauss cũng đưa ra một khái niệm tương tự như vậy. Ông cho rằng: "Mọi nền văn hoá đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng, trong đó xếp hàng đầu là ngữ ngôn, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo” [Jean Chevalier, Alain Gheerbran 1997: 23]. Mọi biểu tượng do con người sáng tạo ra đều là kết quả quá trình nhận thức, suy nghĩ và sáng tạo của con người, là kết quả của việc định giá trị thông qua lựa chọn.
Biểu tượng và giá trị là hai mặt của một , vì vậy Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa một cách đầy đủ hơn: “Văn hóa là hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [Trần Ngọc Thêm: 2007:20] Trong những nền văn hóa khác nhau thì biểu tượng có ý nghĩa khác nhau. Chúng ta chỉ có thể hiểu một biểu tượng khi đặt nó trong bối cảnh xã hội nó được 4 International thesaurus on cultural development 18 sinh ra và trong mối liên hệ thế giới quan của tộc người sáng tạo ra nó và nó được hiểu rõ nhất thông qua diễn giải của người trong cuộc gán cho nó. Như vậy, sự tồn tại của văn hoá luôn được đặc định vào năng lực "tượng trưng hoá" của con người trong quá trình nhận thức và sáng tạo ra các biểu tượng. Bởi lẽ biểu tượng luôn hàm chứa trong nó những giá trị mà đằng sau mỗi giá trị thường ẩn dấu một nhu cầu nào đó của con người.
Trong mọi nhu cầu của đời sống xã hội thì nhu cầu văn hoá là “nhu cầu cần”. Sự đa dạng của các loại hình văn hoá, biểu hiện tính phong phú và tính nhiều nghĩa của thế giới biểu tượng. Khái niệm bến nước Trong tiếng Việt, bến nước là những chỗ bờ sông, mép sông, thường có lối đi lên xuống, thường là bến sông để thuyền bè đậu hoặc dùng làm nơi để tắm giặt, lấy nước gặt ở ngoài bến. Bến nước còn là nơi quy định cho tàu thuyền, xe cộ dừng lại để hành khách lên xuống, xếp dỡ hàng hóa.
Theo từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản: “Bến nước là bến ở sông để thuyền bè đậu hoặc dùng làm nơi tắm giặt, lấy nước” [Nguyễn Kim Thản 2006: 95]. Với cách hiểu này, bến nước còn là những cảng nước6 (cảng sông, cảng biển) phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển (Hình 1.1: Cảnh sinh hoạt ở hàng hóa của con người. bến nước của người Tây Nguyên5) Như vậy, nếu xét theo phương diện chức năng sinh hoạt hằng ngày, bến nước là nơi cung cấp nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt tập thể, công cộng. Bến nước 5 Nguồn ảnh: http://www.aspx?MNU=1135&Chitiet=4909&Style=1 6 Cảng là nơi có công trình và thiết bị phục vụ cho tàu thuyền ra vào để hành khách lên xuống và xếp dỡ hàng hóa [Nguyễn Kim Thản 2006: 106] 19 có thể là một bến sông, hồ, muội nước.
ở đồng bằng hoặc những mạch nguồn phát lộ, nguồn suối ở các vùng cao. Nó cũng tương tự như hình thức giếng làng tại các làng mạc vùng đồng bào Kinh. Bến nước còn là nơi phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa giữa sông nước và đất liền. Do đặc điểm địa hình chủ yếu là những đồi núi nhỏ, dốc nên những bến nước ở Tây Nguyên là nơi có thể lấy được nước một cách tự nhiên ở dạng tự chảy.
Nước được lấy từ những nguồn mạch phát lộ, chảy tự nhiên cung cấp nước ăn và các nhu cầu khác cho cả buôn làng. Vì thế, bến nước ở những vùng cao như Tây Nguyên có khi là một bến sông, có khi là một đoạn suối, nhưng thông thường nhất là nguồn nước lấy từ muội nước hay mạch nước chảy ra từ một vách đất, đầu nguồn suối.