Cơ chế bầu cử thị trưởng thành phố Đài Bắc (Đài Loan) - Luận văn Thạc sĩ

Luận văn phân tích chi tiết cơ chế bầu cử thị trưởng Đài Bắc (Đài Loan), bao gồm quy trình, nguyên tắc và thực trạng qua các kỳ bầu cử.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và bản chất cơ chế bầu cử thị trưởng Đài Bắc

Cơ chế bầu cử thị trưởng tại thành phố Đài Bắc là một quy trình dân chủ quan trọng, thể hiện quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Đây là hình thức bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, cho phép toàn bộ cử tri có quyền bầu cử lựa chọn lãnh đạo thành phố của mình. Bầu cử thị trưởng Đài Bắc không chỉ là một sự kiện chính trị mà còn là biểu hiện của giá trị dân chủ, nơi mỗi công dân có cơ hội bầu cử và tham gia vào quá trình quyết định chính trị. Cơ chế này được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của dân chủ hiện đại, đảm bảo công bằng, minh bạch và tuân thủ pháp luật. Qua các kỳ bầu cử từ 1994 đến nay, cơ chế bầu cử thị trưởng Đài Bắc đã không ngừng hoàn thiện, phản ánh sự phát triển của nền dân chủ địa phương.

1.1. Định nghĩa cơ chế bầu cử thị trưởng

Cơ chế bầu cử thị trưởng là tập hợp các quy tắc, quy trình và thủ tục pháp luật điều chỉnh quá trình lựa chọn thị trưởng thông qua phiếu bầu của nhân dân. Tại Đài Bắc, đây là một hình thức bầu cử trực tiếp, nơi cử tri trực tiếp bỏ phiếu chọn ứng cử viên yêu thích. Cơ chế này bao gồm các giai đoạn: đăng ký ứng cử, vận động tranh cử, bỏ phiếu và công bố kết quả.

1.2. Bản chất và giá trị dân chủ

Bầu cử thị trưởng Đài Bắc thể hiện bản chất dân chủ thực thụ, tôn trọng quyền lực tối cao của nhân dân. Giá trị dân chủ của cơ chế này nằm ở việc đảm bảo bình đẳng giữa các ứng cử viên, tôn trọng lựa chọn của từng cử tri, và tạo ra một quá trình bầu cử minh bạch, công bằng.

II. Điều kiện ứng cử và quyền bầu cử

Để tham gia bầu cử thị trưởng Đài Bắc, các ứng cử viên phải đáp ứng những điều kiện ứng cử cụ thể được quy định trong luật bầu cử. Các điều kiện này bao gồm: phải là công dân Đài Loan, đủ tuổi theo quy định, không có tiền án, tư cách pháp nhân đầy đủ. Quyền bầu cử được cấp cho toàn bộ cử tri đạt độ tuổi, có hộ khẩu tại Đài Bắc, không bị pháp luật cấm bầu cử. Những yêu cầu này nhằm đảm bảo tính chất lành mạnh và dân chủ của cuộc bầu cử. Mỗi ứng cử viên phải trải qua quá trình kiểm chứng năng lực, đăng ký chính thức và tuân thủ các quy định về vận động tranh cử.

2.1. Điều kiện để trở thành ứng cử viên

Các ứng cử viên phải là công dân Đài Loan trên 18 tuổi, cư trú tại Đài Bắc ít nhất 6 tháng liên tục. Ứng cử viên không được có tiền án hình sự, không bị tuyên bố mất năng lực. Ngoài ra, họ cần được đủ số lượng công dân ủy thác hoặc đảng chính trị giới thiệu để đăng ký ứng cử chính thức.

2.2. Quyền và trách nhiệm của cử tri

Cử tri bầu cử thị trưởng Đài Bắc được hưởng quyền bầu cử bảo mật, không bị ép buộc hoặc gây ảnh hưởng. Mỗi cử tri có một phiếu bầu, bỏ phiếu kín, và kết quả được công bố công khai. Cử tri cũng có trách nhiệm tuân thủ quy định về địa điểm bầu cử, thời gian bầu cử.

III. Quy trình chi tiết bầu cử thị trưởng Đài Bắc

Quy trình bầu cử thị trưởng Đài Bắc được chia thành nhiều giai đoạn rõ ràng, bắt đầu từ công bố thông tin bầu cử cách khoảng 60-90 ngày trước ngày bầu cử. Giai đoạn tiếp theo là chấp nhận đăng ký ứng viên, những người quan tâm phải nộp hồ sơ đầy đủ. Sau đó, rút thăm xác định số của các ứng cử viên được tiến hành công khai. Hoạt động vận động tranh cử diễn ra trong khoảng thời gian quy định, với các hạn chế về hình thức quảng cáo và chi phí. Hội nghị lấy ý kiến quần chúng cho phép các ứng cử viên trình bày chương trình. Cuối cùng, ngày bầu cử chính thức diễn ra, với việc công bố kết quả và trao giấy chứng nhận cho thị trưởng được bầu.

3.1. Giai đoạn chuẩn bị và đăng ký ứng viên

Công bố thông tin bầu cử là bước đầu tiên, thông báo cho công chúng về lịch trình bầu cử toàn bộ. Chấp nhận đăng ký ứng viên kéo dài từ 10-15 ngày, trong đó ứng cử viên phải nộp các giấy tờ: chứng minh thư, bằng cấp, tờ khai tài sản. Sau đó, rút thăm xác định số được tiến hành công khai để gán số hiệu cho từng ứng cử viên.

3.2. Vận động tranh cử và công bố danh sách cử tri

Vận động tranh cử thường kéo dài 30 ngày, trong đó ứng cử viên được phép tổ chức lễ hội, phát tờ rơi, quảng cáo trên truyền hình. Hội nghị lấy ý kiến quần chúng cho phép ứng cử viên trực tiếp gặp gỡ cử tri. Danh sách cử tri được công bố công khai, cử tri có quyền phản đối. Cấp giấy chứng nhận cho ứng cử viên sau khi hoàn tất kiểm chứng.

IV. Hoàn thiện cơ chế bầu cử thị trưởng Đài Bắc hiện nay

Mặc dù cơ chế bầu cử thị trưởng Đài Bắc đã được hoàn thiện qua nhiều kỳ bầu cử, nhưng vẫn còn những vấn đề cần giải quyết. Chi phí bầu cử ngày càng cao, gây khó khăn cho ứng cử viên từ các tầng lớp dân cư khác nhau. Tỷ lệ cử tri đi bầu có xu hướng giảm, đặc biệt ở nhóm tuổi trẻ. Để hoàn thiện cơ chế bầu cử, cần thực hiện các biện pháp như: giảm chi phí bầu cử, thiết lập các quy tắc cạnh tranh công bằng, nâng cao ý thức và sự sẵn lòng tham gia của công dân, cập nhật độ tuổi bầu cử. Việc nâng cao ý thức ngƣời dân thông qua giáo dục dân chủ, tuyên truyền về tầm quan trọng của bầu cử cũng là một hướng đi quan trọng.

4.1. Giảm chi phí bầu cử và thiết lập quy tắc công bằng

Chi phí bầu cử cần được kiểm soát chặt chẽ thông qua giới hạn chi phí vận động tranh cử, hỗ trợ tài chính công bằng cho các ứng cử viên. Nên thiết lập quy tắc cạnh tranh công bằng, giới hạn thời gian quảng cáo, cấm sử dụng tiền bạc vô hạn. Cần tăng cƣờng giám sát tài chính bầu cử để phát hiện các vi phạm.

4.2. Nâng cao ý thức cử tri và mở rộng quyền bầu cử

Nâng cao ý thức ngƣời dân thông qua chương trình giáo dục dân chủ trong các trường học, cộng đồng. Tăng cƣờng các hoạt động tuyên truyền về tầm quan trọng của bầu cử. Nên xem xét cấp quyền bầu cử cho công dân 18 tuổi để khuyến khích sự tham gia của thế hệ trẻ vào quá trình dân chủ.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 02 chƣơng. Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẦU CỬ Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẦU CỬ THỊ TRƢỞNG THÀNH PHỐ ĐÀI BẮC (ĐÀI LOAN – TRUNG QUỐC). CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẦU CỬ 1. Khái niệm cơ chế bầu cử Là hiện tƣợng lịch sử - xã hội đặc thù, cơ chế bầu cử xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của tƣ tƣởng dân chủ, nhất là thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ.

Đặc trƣng nổi bật nhất của các thể chế dân chủ là tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào chính trị, tham gia vào công việc của nhà nƣớc, công việc quản lý xã hội. Nhƣ vậy, sự ra đời của cơ chế bầu cử nhƣ là một công cụ hữu hiệu đảm bảo thể chế dân chủ đƣợc xây dựng và vận hành. Là lĩnh vực phức tạp và có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, cơ chế bầu cử, từ lâu đã đƣợc các học giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, đến nay cách tiếp cận và quan điểm về cơ chế bầu cử vẫn còn những khác nhau.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, bầu cử là bầu cơ quan đại biểu[17, tr. Theo đó, bầu cử chính là việc chọn ra cơ quan đại biểu, mà ở đó, các đại biểu sẽ đại diện cho những ngƣời ủy quyền cho đại biểu tham gia vào đời sống chính trị. Từ góc độ xã hội, rõ ràng việc bỏ phiếu là kết quả của một quyết định của con ngƣời. Cách thức mà sự lựa chọn này đƣợc nhà nƣớc hình thành, quản lý và thực hiện là hệ thống bầu cử.

Dƣới góc độ chính trị, hệ thống bầu cử đƣợc coi là bầu không khí chính trị, là sự thể hiện của dân chủ, là tiêu chuẩn để đo lƣờng mức độ dân chủ và các nguyên tắc thực hiện dân chủ ở một quốc gia[18, tr. Khái niệm Cơ chế bầu cử gắn liền với một quốc gia hoặc bang cụ thể. Khi xem xét một cách tổng thể, cả nƣớc không có hệ thống bầu cử đơn lẻ, tuy nhiên, chế độ chịu trách nhiệm bầu chọn các thành viên chính phủ ở mỗi bang là khác nhau. Dƣới góc độ pháp lý, thuật ngữ cơ chế bầu cử (Electoral Systems) đƣợc nhiều học giả đề cập: Trong sách chuyên khảo về cơ chế bầu cử “Electoral System Design: The New International Handbook” do IDEA xuất bản năm 2005 diễn giải “Cơ chế bầu cử là một bộ phận của luật bầu cử và những quy tắc (khác) điều chỉnh quan hệ bầu cử, nó quyết định cách thức bầu chọn vào cơ quan đại diện (đối với các đảng phái, các ứng cử viên).

Cơ chế bầu cử bao gồm ba yếu tố quan trọng nhất: công thức tính phiếu (electoral formula), cấu trúc của các phiếu bầu (ballot 10 structure) và số lƣợng đại biểu đƣợc ấn định cho mỗi đơn vị bầu cử (district magnitude) [42]. Một nhóm học giả khác định nghĩa cơ chế bầu cử “chuyển hóa” từ quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nƣớc. Theo nhóm học giả đề xuất, chuyển hóa là quá trình biến đổi từ một cơ chế bầu cử truyền thống sang một cơ chế bầu cử mới, có tính minh bạch và công bằng hơn. Điều này đƣợc đánh giá là cần thiết để đảm bảo tính dân chủ và sự phát triển của một đất nƣớc.

Trong cơ chế bầu cử chuyển hóa, quyền lực chính trị sẽ không đƣợc tập trung vào một cá nhân hay một đảng cầm quyền, mà sẽ đƣợc chia sẻ rộng rãi và kiểm soát bởi các nhà lãnh đạo và các cơ quan điều hành khác nhau trong chính quyền. Chuyển hóa cũng đƣa ra các cải tiến về cơ chế quản lý bầu cử, nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc xử lý kết quả bỏ phiếu. Một số học giả ở Đài Loan có hiểu biết rộng và hẹp về hệ thống bầu cử. Nói một cách rộng rãi, hệ thống bầu cử là tổng hợp các quan hệ xã hội liên quan đến bầu cử và cấu thành nên trình tự bầu cử.

Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh hệ thống bầu cử là tổng hòa các quan hệ pháp luật và các quan hệ xã hội khác đƣợc hiến pháp và pháp luật quy định. các đảng chính trị, hoặc phong tục, tập quán hoặc đạo đức, vì không phải tất cả các mối quan hệ trong hệ thống bầu cử đều đƣợc điều chỉnh bởi luật pháp và quy định. Theo nghĩa hẹp, hệ thống bầu cử đƣợc hiểu là phƣơng thức phân bổ số ghế đại diện giữa các ứng cử viên trên cơ sở phiếu bầu của cử tri hoặc cá nhân có thẩm quyền. Hệ thống bầu cử theo nghĩa hẹp nhìn chung rất đa dạng và phức tạp [1].

Có thể thấy, khi các học giả nghiên cứu hệ thống bầu cử, họ thƣờng mô tả những biểu hiện bên ngoài của hệ thống bầu cử hơn là xem xét bản chất bên trong của hệ thống bầu cử; trong khi các học giả khác thƣờng nhấn mạnh đến cách “chuyển hóa” phiếu bầu, tức là tập trung vào bản chất bên trong của hệ thống bầu cử; bản chất bên trong của hệ thống bầu cử hơn là hình thức bên ngoài. Sử dụng mỗi phƣơng pháp khác nhau, một đối tƣợng hoặc hiện tƣợng có thể đƣợc định nghĩa khác nhau. Nếu chỉ dựa vào hình thức thể hiện thì không thấy rõ 11 bản chất bên trong của hệ thống bầu cử; ngƣợc lại, nếu chỉ nhìn vào bản chất của hệ thống bầu cử thì hình thức thể hiện của hệ thống bầu cử sẽ không rõ ràng. đƣợc tiết lộ [2].

Vì vậy, để xem xét một cách toàn diện hệ thống bầu cử, cần kết hợp hai ý kiến trên. Hình thức bên ngoài của hệ thống bầu cử là tổng thể của các quy định pháp luật; nếu xét bản chất của sự vật thì hệ thống bầu cử là công cụ pháp lý “chuyển” ý chí của cử tri thành cơ quan đại diện. Kế thừa các quan điểm nêu trên, có thể khái quát về cơ chế bầu cử nhƣ sau: Cơ chế bầu cử là tổng thể các quy định của pháp luật của một nước bao gồm các nguyên tắc bầu cử nhằm “chuyển hóa” ý chí của nhân dân được thể hiện trong những phiếu bầu thành cơ quan đại diện. Cơ chế bầu cử không những quyết định ứng cử viên, đảng phái chính trị, lực lượng xã hội nào được bầu chọn, mà nó còn quyết định cách thức chuyển hóa quyền lực từ nhân dân sang cho người đại diện.

Bản chất, giá trị dân chủ và những yếu tố chi phối, tác động đến cơ chế bầu cử 1. Bản chất, giá trị dân chủ của cơ chế bầu cử Bầu cử trƣớc hết là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của con ngƣời. Nó phát triển cùng với quá trình phát triển của con ngƣời và bầu cử ngày càng mang tính chính trị - pháp lý sâu sắc. Trong xã hội hiện đại, đối với các quốc gia dân chủ, bầu cử là một hoạt động và là chế định không thể thiếu trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân.

Trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến, giai cấp tƣ sản đã sử dụng bầu cử nhƣ một vũ khí hữu hiệu để hạn chế quyền lực của giai cấp phong kiến. Cách mạng dân chủ tƣ sản xác lập, chế độ dân chủ tƣ sản tuyên bố chủ quyền nhân dân, cũng đồng thời khẳng định bầu cử là phƣơng thức căn bản để ủy quyền, qua đó thành lập ra các thiết chế đại diện. Dƣới góc độ tính giai cấp, cơ chế bầu cử bao giờ cũng là công cụ của giai cấp thống trị, nó phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị bằng cách bảo đảm cho giai cấp này nắm đƣợc bộ máy nhà nƣớc. Cơ chế bầu cử phản ánh mối tƣơng quan lực lƣợng trong cuộc đấu tranh giai cấp.

Khi tƣơng quan lực lƣợng đấu tranh giai cấp 12 thay đổi thì cơ chế bầu cử thƣờng thay đổi theo. Cơ chế bầu cử là phƣơng tiện pháp lý để chuyển hóa quyền lực chính trị thành quyền lực nhà nƣớc, “biến” tƣơng quan đó thành quyền lực nhà nƣớc theo tỉ lệ tƣơng ứng[7]. Cơ chế bầu cử thực chất là cuộc “trƣng cầu ý dân” về các đảng phái, các lực lƣợng chính trị trong một quốc gia. Đây là đặc điểm cơ bản của bất cứ cơ chế bầu cử nào.

Bản chất của cơ chế bầu cử đƣợc thể hiện ở hai vấn đề cơ bản: (1) Sự lựa chọn đó nhƣ thế nào và ai có quyền bầu cử? Nhân dân, nhƣng nhân dân là những ai? Ai có thể đƣợc bầu? Ứng cử viên hay đảng phái chính trị, lực lƣợng xã hội? Bầu nhƣ thế nào? Trình tự, thủ tục và cơ chế đảm bảo thực hiện ra sao? Làm sao để đảm bảo đúng ý chí của nhân dân khi bầu cử?; (2) Việc trao quyền lực của nhân dân cho ngƣời đại diện ra sao: cách thiết kế đơn vị bầu cử? Theo tiêu chí lãnh thổ hay theo đảng phái chính trị? Phƣơng thức xác định kết quả bầu cử nhƣ thế nào: Đa số hay tỉ lệ? Ủy thác cho các cá nhân hay đảng phái? Công thức hay kỹ thuật nào để quá trình chuyển hóa kết quả bầu cử thành “ghế” trong cơ quan đại diện phản ánh trung thực sự trao quyền lực của các cử tri vào các đại biểu hay các đảng phái trong cơ quan đại diện. Dƣới góc độ xã hội, đối với các quốc gia dân chủ, cơ chế bầu cử có vai trò nhƣ một “phần mềm” để chuyển tải sự lựa chọn của cử tri thành cơ quan dân cử. Sự chuyển tải của “phần mềm” đó càng “tiệm cận” ý chí của hàng triệu chủ nhân đi bỏ phiếu, càng chứng tỏ cơ chế bầu cử đó có “chất lƣợng” tốt. Một cơ chế bầu cử dân chủ phải có hai khả năng: Một là, nó phải tạo điều kiện, cơ hội cho nhân dân chọn đúng cái cần chọn; Hai là, cơ chế bầu cử phải chuyển tải quyền lực của nhân dân cho đúng đối tƣợng cần trao.

Theo đó, bảo đảm sự công bằng trong tham gia bầu cử của nhân dân là điều hết sức quan trọng. Bởi nếu không đảm bảo đƣợc sự tham gia công bằng đối với mọi ngƣời dân, thì sự bất bình đẳng sẽ xảy ra. Đối với nhiều ngƣời, cho dù ở nƣớc nào, sự bất bình đẳng quá mức không chỉ gây ra sự bất mãn mà còn tạo ra các phe phái giấu mặt và hàng loạt các âm mƣu[29]. Cơ chế bầu cử là biểu hiện quan trọng của dân chủ, là một trong những thiết chế nền tảng của nền dân chủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ