CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU .2 Bối cảnh nghiên cứu của đề tài .3 Tính cần thiết của đề tài nghiên cứu .1 Về mặt lý luận .2 Về mặt thực tiễn .4 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài. 6 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .1 Tổng quan về cơ sở lý thuyết .1 Cổ tức và chinh sách cổ tức .2 Chính sách cổ tức .2 Một số yết tố cơ bản tác động đến chính sách cổ tức .1 Các yếu tố bên trong .2 Các yếu tố bên ngoài .3 Bất cân xứng thông tin .2Ý nghĩa của việc đánh giá tình trạng bất cân xứng thông tin .3Các biện pháp để hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng .4 Mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và bất cân xứng thông tin .2 Tổng quan những nghiên cứu trước đây. 18 CHƯƠNG III: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .1 Dữ liệu mẫu nghiên cứu .2 Biến nghiên cứu .1 Định nghĩa các biến nghiên cứu .2 Thang đo các biến nghiên cứu .3 Mô hình nghiên cứu .4 Phương pháp nghiêncứu. 30 CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .1 Mô tả thống kê .2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm .1 Kết quả nghiên cứu cho câu hỏi 1 .1 Kiểm định Kruskal Wallis cho 2 sàn chứng khoán .2 Kiểm định Kruskal Wallis cho các năm .3 Kiểm định Kruskal Wallis cho các nghành .4Kiểm định Kruskal Wallis cho các doanh nghiệp .2 Kết quả nghiên cứu cho câu hỏi 2 đến câu hỏi 5 .3 Ứng dụng của mô hình nghiên cứu trong thực tiễn.
47 CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .1Kết luận về kết quả nghiên cứu .2 Những hạn chế của bài nghiên cứu .3 Hướng nghiên cứu tiếp theo .4 Một số kiến nghị, đề xuất .1 Công khai thông tin .2 Góc độ quản lý nhà nước .3 Thành lập tổ chức định mức tín nhiệm. 59 Tài liệu tham khảo Phụ lục DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang Bảng 4.1 Tổng hợp những ngành trong dữ liệu nghiên cứu .2 Mô tả mẫu nghiên cứu.3 Hệ số tương quan .4 Kiểm định Kruskal Wallis cho các sàn chứng khoán .5 Kiểm định Kruskal Wallis cho các năm.6 Kiểm định Kruskal Wallis cho ngành .7 Kiểm định Kruskal Wallis cho các doanh nghiệp .8 Mô hình hồi quy các năm 2008- 2013 .1: Diễn biến chi trả cổ tức các ngành. 51 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Trang Hình 1.1: Diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013 .1 Mô hình nghiên cứu. 29 1 CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu: Quyết định chi trả cổ tức là một trong những quyết định quan trọng của doanh nghiệp và được nhiều tác giả nghiên cứu sâu rộng trong những lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại.Trong suốt nhiều thập kỷ vừa qua, chính sách cổ tức được đề cập đến trong nhiều mô hình nghiên cứu thực nghiệm.Qua đó, ta thấy có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách cổ tức và một trong những yếu tố quan trọng nhất là thông tin bất đối xứng.
Jensen and Meckling (1976) đã giải thích vì sao sự hiện diện của những rào cản như chi phí đại diện và thông tin bất cân xứng liên quan đến chính sách cổ tức, những rào cản này xuất phát chủ yếu từ xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông. Thông tin bất cân xứng trong thị trường chứng khoán xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu thông tin cá nhân về giá trị của công ty trong khi các nhà đầu tư khác không được thông tin. Ngoài ra Modigliani & Miller (1961), Bhattacharya (1979), Miller và Rock (1985), John và Williams (1985) cũng đã nghiên cứu về thông tin bất cân xứng trong mối quan hệ với chính sách cổ tức. Kế thừa những mô hình thực nghiêm nghiên cứu trước đây, bài nghiên cứu này tác giả tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và thông tin bất cân xứng tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 1.2 Bối cảnh nghiên cứu của đề tài: Sau hơn 12 năm hoạt động, diễn biến thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh đang diễn ra với một số hiện trạng như sau: Giá cổ phiếu rất thấp : Nếu như trong những ngày đầu tiên khi thị trường chứng khoán thành lập (năm 2000), thì giá các cổ phiếu niêm yết trên sàn luôn giữ ở mức trên mệnh giá (tức trên 10 nghìn).
Trong đó, đa số là những mã có mệnh 2 giá vài chục nghìn, thậm chí mệnh giá hơn 100 nghìn cũng không ít. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại có tới 166/311 mã có giá bằng hoặc dưới mệnh giá chiếm 53. Đáng chú ý, thị trường còn xuất hiện những cổ phiếu có mức giá thấp khó tưởng tượng, chưa đến 1.000 đồng, ví dụ như: Công ty cổ phần Nhựa Tân Hóa (VKP) có thời điểm rơi xuống mức 600 đồng/cổ phiếu. Công ty bị cảnh báo tăng kỷ lục: Trong những ngày gần đây, thị trường chứng khoán luôn phải đối mặt với những thông tin không mấy khả quan.
Điều khiến nhiều nhà đầu tư quan tâm nhất trong bối cảnh hiện nay có thể nó là việc các công ty niêm yết liên tục bị rơi vào tình trạng cảnh báo do thua lỗ nặng trong năm 2012, chẳng hạn như Công ty cổ phần Công nghệ viễn thông Sài Gòn (SGT) đã thua lỗ nặng tới 244,442 tỷ đồng trong năm 2011 (trong khi vốn chủ sở hữu là xấp xỉ 608 tỷ đồng) Nhiều công ty hủy niêm yết: chẳng hạn Ngày 10/11/2012, Công ty cổ phần Nước giải khát Sài Gòn - Tribeco (TRI) thông báo chốt danh sách xin ý kiến cổ đông về việc xin hủy niêm yết tại HOSE. Ngày 28/08/2013, Công ty cổ phần Gò Đà ( AGD) thông báo chốt danh sách xin ý kiến cổ đông về việc xin hủy niêm yết tại HOSE. Ngày 23/05/2013, Công ty cổ phần Xi măng Sông Đà cũng bị hủy niệm yết bắt buộc tại sàn HNX do kết quả kinh doanh bị thua lộ 3 năm lien tiếp. Công ty cổ phần Xây dựng Công nghiệp (Descon) cũng công bố lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản việc hủy niêm yết hôm 9/11/2012….
Số doanh nghiệp niêm yết mới ngày càng ít: hết 8 tháng năm 2012, lượng doanh nghiệp đăng ký niêm yết trên HOSE chưa bằng 1/3 năm ngoái. Kết quả kinh doanh không đƣợc khả quan: Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, môi trường kinh doanh đã tác động nhiều tới hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp và đã khiến nhà đầu tư lo ngại về triển vọng các quý tới đây dẫn tới bi quan về tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp. Khó khăn trong việc chi trả cổ tức: Thống kê sơ bộ với các doanh nghiệp phải giãn thời hạn trả cổ tức, không phải doanh nghiệp không tính được 1 Tính theo giá tham chiếu ngày 9/10/2012 3 nguồn, mà do việc thu hồi vốn, nợ gặp khó khăn hoặc phải tập trung vốn để đầu tư vào dự án cho kịp tiến độ. Đây là rủi ro có thể lường trước trong bối cảnh tài chính khó khăn, tiền tệ thắt chặt và doanh nghiệp nào cũng mong muốn được chậm trả nợ, chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác.3 Tính cần thiết của đề tài: 1.1 Về mặt lý luận: Cổ tức thường được định nghĩa là việc phân phối thu nhập cho các cổ đông tương ứng với tỷ lệ sở hữu của họ.
Chính sách cổ tức bao hàm chính sách thanh toán, quản lý theo đuổi trong việc quyết định kích thước và mô hình phân phối tiền mặt cho các cổ đông theo thời gian. Chính sách cổ tức là một trong những chính sách quan trọng đối với bất cứ doanh nghiệp nào Thông tin bất cân xứng là mức độ thông tin không phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ về thị trường và diễn biến của nó. Theo nghĩa hẹp nó hàm ý có sự khác biệt đáng kể về khối lượng và chất lượng thông tin đã được tích lũy đến thời điểm xác định giữa các đối tượng liên quan (các đối tượng cùng giải quyết một vấn đề, cùng tham gia một thị trường). Nghĩa là, một bên giao dịch có các thông tin liên quan trong khi bên kia không có hoặc không có đầy đủ.
Thông tin bất cân xứng xảy ra có thể do nguồn thông tin khác nhau, thời điểm nhận tin khác nhau và trình độ nhận thức, ứng xử với thông tin khác nhau. Nguyên nhân là do những hạn chế của thị trường làm cho tốc độ truyền tin chậm, khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin kém. Ngược lại thông tin bất cân xứng là nguyên nhân dẫn đến thị trường kém hiệu quả. Thông tin bất cân xứng vừa là khách quan vừa là chủ quan.
Tính khách quan là do cấp độ hiệu quả của thị trường gây ra những hạn chế về truyền tải và cập nhật thông tin vào trong giá cả. Tính chủ quan là do sự thiếu nỗ lực cũng như chưa quan tâm đầu tư tìm kiếm khai thác thông tin của các đối tượng là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia thị trường.vn/2011071811219637P0C7/cong-ty-niem-yet-can-xan-tay-giup-thi-truong.htm 4 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Bất cân xứng thông tin ) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Sitglitz cũng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. Modigliani & Miller (1961) đã công bố lý thuyết về tín hiệu cổ tức trên cơ sở quan sát diên biến của việc giá cổ phiếu tăng lên khi có các suy đoán rằng tỷ lệ thanh toán cổ tức sẽ tăng lên. Các nhà nghiên cứu tiếp theo như Bhattacharya (1979), Williams & John (1985), Rock & Miller (1985) đã củng cố thêm luận điểm cho học thuyết nêu trên như sau: Các nhà quản lý nắm bắt được nhiều thông tin về giá trị thực của công ty hơn so với các nhà đầu tư và họ trực tiếp công bố các thông tin trên thị trường cho chính sách cổ tức.
Như vậy, mô hình này cho thấy một mối quan hệ trực tiếp giữa việc bất cân xứng thông tin giữa các nhóm thành viên thị trường khác nhau và chính sách cổ tức. Bhattacharya (1979), Miller và Rock (1985), John và Williams (1985) cũng cho rằng mức độ bất cân xứng thông tin có thể trở thành rủi ro kinh doanh đối với các nhà đầu tư cá nhân, do việc tiếp cận thông tin trễ hơn so với các thành viên khác của thị trường. Và việc bất cân xứng thông tin có thể gây tổn hại niềm tin của cổ đông về chính sách cổ tức của công ty.