CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về chiến lược đa dạng hóa và cấu trúc vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về chiến lược công ty. Chiến lược cấp doanh nghiệp hay cấp công ty, còn gọi tắt là chiến lược công ty, là chiến lược tiếp cận doanh nghiệp một cách tổng thể nhằm đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan, của khách hàng và hội đồng quản trị.
Tại cấp doanh nghiệp, các mục tiêu được thiết lập mang tính chiến lược và dài hạn; hoạch định chiến lược là một quá trình gồm: Thứ nhất, đưa ra các quyết định xác định mục tiêu dài hạn, mục tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp, xác định bao nhiêu lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tham gia và đó là những lĩnh vực nào. Thứ hai, tìm kiếm và huy động các nguồn lực cần thiết để triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra; Thứ ba, phân bổ nguồn lực giữa các đơn vị kinh doanh để đảm bảo việc mục tiêu được thực hiện đồng đều giữa các bộ phận nhằm đảm bảo các mục tiêu chung của doanh nghiệp. Chiến lược cấp công ty khái niệm hóa mô tả các mô hình quyết định khác nhau thông qua các mục tiêu của công ty, thông thường sẽ quyết định các vấn đề liên quan tới tầm nhìn và chiến lược của doanh nghiệp. Bằng cách đó, đưa ra các chính sách chính hoặc nguyên tắc để đạt được và thực hiện các mục tiêu đó.
Chiến lược cấp công ty là tất cả về một kế hoạch tổng thể về việc lựa chọn và phát triển thị trường mà công ty muốn đa dạng hóa, giành thị phần cho các công ty hoặc công ty đa dạng hóa. Chiến lược công ty vừa đóng vai trò là chất xúc tác vừa là yếu tố hạn chế của chiến lược công ty của doanh nghiệp bởi vì nếu chiến lược cấp công ty không phù hợp với chiến lược kinh doanh thì không thể xây dựng được sức mạnh tổng hợp nhằm tăng cường lợi thế cạnh tranh bền vững trong thị trường, với các đối thủ cạnh tranh (Porter, 1987). Chiến lược công ty gồm ba khía cạnh cơ bản, đó là chiến lược tăng trưởng tập trung, chiến lược đa dạng hóa và chiến lược hội nhập (Furrer, 2011). 5 Trong bài khóa luận này, chiến lược đa dạng hóa là trọng tâm và mối quan tâm chính được nghiên cứu.
Chiến lược phát triển đa dạng hóa (hoạt động đầu tư của doanh nghiệp) là chiến lược quyết định gia nhập vào một hoặc nhiều ngành mới (ngành khác biệt so với hoạt động ban đầu của công ty) để tận dụng năng lực khác biệt và mô hình kinh doanh hiện có. Nó còn là chiến lược tăng trưởng dựa trên sự thay đổi một cách cơ bản về công nghệ, sản phẩm, lĩnh vực kinh doanh nhằm tạo lập những cặp sản phẩm – thị trường mới cho doanh nghiệp. Trong quá trình chiến lược cấp công ty này, sự thay đổi đáng kể đơn lẻ hoặc chung được thực hiện trong định nghĩa kinh doanh hoặc danh mục đầu tư, đa dạng hóa là việc một công ty tham gia vào các dòng hoạt động mới dẫn đến những thay đổi trong hệ thống, cơ cấu hành chính và quy trình quản lý khác thông qua quá trình mua lại hoặc phát triển kinh doanh (Ramanujam và Varadarajan, 1989). Sự thay đổi có thể có quan điểm khác, ví dụ như thay đổi về nhóm khách hàng, chức năng của khách hàng hoặc các công nghệ thay thế của một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh của công ty.
Chiến lược đa dạng hóa là nhằm tạo ra sự đa dạng trong các lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia. Đa dạng hóa mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích không chỉ phân tán rủi ro mà còn những lợi ích tài chính và phi tài chính khác. Thứ nhất, đa dạng hóa không chỉ đóng vai trò phân tán rủi ro cho các ngành kinh doanh khác nhau, vì nếu chỉ nhằm phân tán rủi ro các chủ sở hữu có thể tiến hành một cách đơn giản là mua cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp trong các ngành khác nhau hoặc rót tiền vào các quỹ đầu tư. Thứ hai, việc đa dạng hóa sẽ có ý nghĩa nếu nó gia tăng lợi ích cho các chủ sở hữu nhiều hơn lợi ích mà họ thu được nếu đầu tư độc lập.
Do đó một ngành/lĩnh vực được lựa chọn để đa dạng hóa phải đủ sức hấp dẫn để mang lại tỷ suất lợi nhuận cao và hỗ trợ cho các lĩnh vực kinh doanh nhiều hơn là khi chúng kinh doanh độc lập. Theo quan điểm của Hitt và cộng sự (2007), đa dạng hóa có thể chia ra làm hai dạng cơ bản là đa dạng hóa liên quan (ràng buộc hoặc theo chuỗi) hoặc đa dạng 6 hóa không liên quan. Doanh nghiệp sử dụng chiến lược đa dạng hóa liên quan mong muốn tạo ra và tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô giữa các lĩnh vực kinh doanh. Chiến lược đa dạng hóa không liên quan thường hướng việc đầu tư tài chính vào những ngành có triển vọng lợi nhuận tốt trong danh mục đầu tư thay vì theo đuổi việc đầu tư mở rộng hoạt động trong cùng chuỗi giá trị, hoặc phù hợp với chuỗi giá trị hiện tại của doanh nghiệp.
Với chiến lược này, một trở ngại lớn mà hiển nhiên các doanh nghiệp đa dạng hóa phải vượt qua đó là họ phải có một đội ngũ quản lý cấp cao có khả năng hoạch định, tổ chức, khuyến khích, ủy quyền và kiểm soát hữu hiệu. Điều này là hoàn toàn cần thiết vì việc quản lý hoạt động kinh doanh đa ngành phức tạp hơn rất nhiều lần hoạt động kinh doanh trong một ngành đơn nhất. Các hình thức cụ thể của hoạt động mua bán doanh nghiệp nhằm thực hiện chiến lược đa dạng hóa sẽ được trình bày cụ thể trong phần chiến lược tăng trưởng bằng cách liên kết bao gồm mua bán – sáp nhập, giành quyền kiểm soát, liên doanh và liên minh chiến lược. Nhìn chung, chiến lược đa dạng hóa cũng cần phải dựa trên những nền tảng cơ bản chung là những nguồn lực dư thừa và có khả năng tận dụng vào kinh doanh; khả năng quản lý ở các lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đa dạng hóa.
Vai trò của chiến lược doanh nghiệp Chiến lược công ty đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Sau đây là những vai trò quan trọng của chiến lược công ty: Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong. Do đó, chiến lược công ty giúp doanh nghiệp định hướng cho hoạt động của mình trong tương lai thông qua việc xác định, phân tích và dự báo môi trường kinh doanh. Chiến lược công ty giúp doanh nghiệp vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động của thị trường, đồng thời còn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển theo đúng hướng.
Điều đó có thể giúp doanh nghiệp phấn đấu thực hiện mục tiêu nâng cao vị thế của mình trên thị trường. 7 Chiến lược công ty giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội cũng như đầy đủ và cả các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của doanh nghiệp. Chiến lược công ty giúp doanh nghiệp khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực nhân sự, phát huy sức mạnh của doanh nghiệp. Chiến lược tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp liên kết được các cá nhân với các lợi ích khác cùng hướng tới một mục đích chung, cùng phát triển doanh nghiệp.
Chiến lược công ty tạo mối liên kết gắn bó giữa các nhân viên với nhau và giữa các nhà quản lý với nhân viên. Qua đó tăng cường và nâng cao hơn nữa nội lực của doanh nghiệp. Chiến lược công ty là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hưởng và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.
Quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Ngoài những yếu tố cạnh tranh như: Giá cả, chất lượng, quảng cáo, marketing, các doanh nghiệp còn sử dụng chiến lược công ty như một công cụ cạnh tranh có hiệu quả. Khái niệm về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn hay cơ cấu vốn (capital structure) là khái niệm đề cập đến tỷ lệ vốn (tiền) trong một doanh nghiệp theo loại. Nói chung, có hai hình thức vốn: vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Mỗi loại vốn đều có những lợi ích và hạn chế riêng của nó và một phần quan trọng của quản lý. Hơn nữa, một yếu tố quan trọng trong quản lý doanh nghiệp một cách thông minh là việc cố gắng tìm ra cấu trúc vốn hoàn hảo về rủi ro/phần thưởng cho các cổ đông. Điều này đúng với các chủ doanh nghiệp nhỏ đang cố gắng xác định họ có thể vay bao nhiêu tiền khởi nghiệp từ các ngân hàng mà không gây nguy hiểm cho doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu (equity capital) là số tiền được bỏ ra và sở hữu bởi các cổ đông (chủ sở hữu).
Thông thường, vốn chủ sở hữu bao gồm hai loại: vốn góp (là số tiền ban đầu được đầu tư vào kinh doanh để đổi lấy cổ phần hoặc quyền sở hữu); lợi nhuận giữ lại (thể hiện lợi nhuận từ những năm trước đã được công ty giữ lại và sử 8 dụng để củng cố bảng cân đối hoặc được sử dụng nhằm mục đích phát triển, mua lại hoặc mở rộng công ty). Nhiều người coi vốn chủ sở hữu là loại vốn đắt nhất mà một công ty có thể sử dụng vì "giá" của nó là lợi nhuận mà công ty phải kiếm được để thu hút đầu tư. Vốn vay trong cấu trúc vốn của công ty đề cập đến số tiền vay đang được sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Loại vốn an toàn nhất là trái phiếu dài hạn bởi vì công ty có nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ để trả nợ trong khi chỉ phải trả tiền lãi trong thời gian chờ đợi.
Các loại nợ khác có thể bao gồm hối phiếu thương mại ngắn hạn trong các khoản vay 24 giờ từ thị trường vốn để đáp ứng các yêu cầu về vốn lưu động hàng ngày như bảng lương và hóa đơn tiện ích.