Chương 1: trình bày sự cần thiết nghiên cứu của đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài, cấu trúc của đề tài nghiên cứu. Chương này cho người đọc cái nhìn tổng quát về đề tài được nghiên cứu, qua đó làm bước đệm để tìm hiểu sâu hơn các chương tiếp theo. 7 Chương 2 nhắc lại một số cơ sở lý thuyết về cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, giúp người đọc hiểu sâu hơn về đối tượng được nghiên cứu. Chương 2 cũng trình bày khảo lược một số nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, từ đó đưa ra định hướng nghiên cứu của tác giả trong đề tài luận văn.
Chương 3 trình bày việc thu thập dữ liệu, tiến hành lựa chọn các nhân tố đưa vào mô hình và phân tích lựa chọn phương pháp hồi quy phù hợp, đồng thời đặt ra các giả thuyết của mô hình nghiên cứu. Chương 4 trình bày việc hồi quy dữ liệu và thực hiện một số kiểm định quan trọng để đưa ra kết quả hồi quy sau cùng. Cuối cùng, chương này phân tích các nhân tố ảnh hưởng, các nhân tố không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK TP. HCM dựa trên kết quả hồi quy thu được.
Chương 5 đưa ra kết luận và những kiến nghị nhất định cho việc hoạch định chính sách của các doanh nghiệp niêm yết và các nhà đầu tư. Chương này cũng đưa ra những hạn chế của luận văn và đề xuất một số hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CỔ PHIẾU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU Chương 2 trình bày những lý thuyết cơ bản về giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, đồng thời khảo lược một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu cả trong nước và ngoài nước, với mục tiêu tìm ra hướng phát triển mới của đề tài nghiên cứu so với các nghiên cứu trước, đồng thời tạo nền tảng lý luận để phân tích kết quả của mô hình ở chương 4.1 Cổ phiếu và giá cổ phiếu 2.1 Khái niệm cổ phiếu Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011), vốn của công ty cổ phần được hình thành trên cơ sở sự góp vốn của nhiều người. Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần, người góp vốn và doanh nghiệp bằng cách mua cổ phiếu của doanh nghiệp gọi là cổ đông.
Cổ phiếu là giấy tờ có giá chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào các công ty cổ phần, đại diện cho quyền sở hữu của các cổ đông. Cổ phiếu được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí như: hình thức cổ phiếu, quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ, đặc điểm phát hành,… Trong đó, phân loại theo quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho người nắm giữ là một trong những cách phân loại thường được sử dụng. Theo cách phân loại này, cổ phiếu gồm: Cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu phổ thông là cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người sở hữu cổ phiếu này là chủ sở hữu của doanh nghiệp, có quyền tham giam họp và bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp trong các cuộc họp đại hội đồng cổ đông, được quyền bầu cử và ứng cử vào hội đồng quản trị của doanh nghiệp.
Cổ phiếu ưu đãi là một dạng cổ phiếu tương đối đặc biệt, người sở hữu cổ phiếu này được hưởng những ưu đãi nhất định về biểu quyết, cổ tức, hoàn lại…, nhưng đồng 9 thời cũng bị giới hạn một số quyền nhất định so với cổ phiếu thường. Chẳng hạn, cổ phiếu ưu đãi cổ tức bị giới hạn về quyền biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết bị giới hạn về thời gian chuyển nhượng,… Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cũng chỉ ra rằng, cổ phiếu chính là hàng hóa đặc biệt của thị trường cổ phiếu, do vậy giá cổ phiếu cũng chịu ảnh hưởng bởi quy luật cung cầu.2 Các loại giá cổ phiếu và phương pháp định giá Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011), giá cổ phiếu có thể phân thành 4 loại: mệnh giá, thị giá, giá trị nội tại (giá trị lý thuyết), giá trị sổ sách.1 Mệnh giá (par value) Mệnh giá (par value): là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu. Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng làm căn cứ hạch toán kế toán của doanh nghiệp, ít có giá trị thực tế đối với các nhà hoạch định chiến lược trong việc phân tích giá cổ phiếu, các nhà đầu tư trong việc lựa chọn cổ phiếu đầu tư. Theo luật chứng khoán (2013) mệnh giá của cổ phiếu tại Việt Nam là mười ngàn đồng.2 Giá trị sổ sách (book value) Giá trị sổ sách (book value) là giá phản ánh tình trạng vốn cổ phần của doanh nghiệp ở một thời điểm nhất định.
Giá trị sổ sách cho thấy giá trị tăng hoặc giảm của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định so với số vốn góp ban đầu. Theo Bodie, Kane và Marcus (2014), giá trị sổ sách được xác định dựa trên giá trị lịch sử của tài sản và nợ, và có thể không phản ánh giá trị thị hiện tại của cổ phiếu: Giá trị sổ sách = [tổng tài sản – tổng nợ - giá trị cổ phiếu ưu đãi (nếu có)]/số cổ phiếu thường Trong đó, giá trị cổ phiếu ưu đãi được tính theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy vào loại cổ phiếu ưu đãi, cộng với phần cổ tức chưa trả cho cổ đông ưu đãi ở các kỳ trước (nếu có).3 Giá trị nội tại (intrinsic value) Giá trị nội tại (intrinsic value) là giá trị bên trong của cổ phiếu, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Giá trị nội tại của cổ phiếu cho thấy giá trị nhất định của cổ phiếu dựa trên giải thuyết nắm giữ cổ phiếu mãi mãi, được tính toán trên cơ sở chiết khấu các dòng tiền về thời điểm hiện tại. Các dòng tiền bao gồm cổ tức và số tiền thu được từ việc bán cổ phiếu trong tương lai.
Giá trị nội tại của cổ phiếu là một trong những căn cứ phục vụ việc mua bán, sáp nhập, chia tách. giữa các doanh nghiệp. Theo Bodie, Kane và Marcus (2014), giá trị nội tại thiết lập một cơ sở cho những tín hiệu giao dịch nhất định. Nếu giá trị nội tại nhỏ hơn giá thị trường, có nghĩa là cổ phiếu đang được định giá cao, nhà đầu tư nên bán cổ phiếu và ngược lại, nếu giá trị nội tại cao hơn giá thị trường, có nghĩa là cổ phiếu đang được định giá thấp, là tín hiệu để mua vào cổ phiếu.
Giá trị nội tại có thể được ước tính bằng cách sử dụng nhiều mô hình hoặc các phương pháp tiếp cận: * Phương pháp định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu cổ tức: Giá trị nội tại của cổ phiếu theo phương pháp này được tính dựa vào cổ tức hàng năm và tỷ suất sinh lợi cần thiết của cổ phiếu đó: n D1 D2 Dn Dt V (1 ke ) (1 ke ) 1 2 .1) Trong đó: V: Giá trị nội tại của cổ phiếu Dt: cổ tức được chia ở thời kỳ t ke: tỷ suất sinh lợi cần thiết của nhà đầu tư. Trong trường hợp cổ phiếu có cổ tức tăng trưởng đều theo thời gian, mô hình định giá cổ phiếu có dạng: D0 (1 g ) D0 (1 g )2 D0 (1 g )n D0 (1 g ) V .2) (1 ke )1 (1 ke )2 (1 ke )n ( ke g ) Trong đó: 11 D0 : cổ tức kỳ hiện tại của cổ phiếu G: tốc độ tăng trưởng của cổ tức. Điều kiện: ke>g Trong phương trình (2.2), tốc độ tăng trưởng cổ tức là tốc độ tăng trưởng dài hạn và kéo dài vĩnh viễn. Theo Bodie, Kane và Marcus (2014), một cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng cổ tức cao, không có nghĩa là sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn cho các nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, việc nắm giữ các cổ phiếu này có thể mang lại rủi ro cho các nhà đầu tư nếu tốc độ tăng trưởng cổ tức diễn ra không đúng kỳ vọng dẫn đến việc sụt giảm của giá cổ phiếu. Trong trường hợp doanh thu và cổ tức của doanh nghiệp trong tương lai gần được kỳ vọng là không thay đổi, nói cách khác cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng cổ tức bằng 0, mô hình định giá cổ phiếu có dạng: D1 V (2.3) ke Tuy nhiên, trên thực tế nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện của mô hình định giá cổ phiếu theo phương pháp cổ tức cố định hay cổ tức tăng trưởng đều, phương pháp định giá theo mô hình cổ tức tăng trưởng nhiều giai đoạn có thể được áp dụng để định giá cổ phiếu. Mô hình tăng trưởng cổ tức nhiều giai đoạn cho phép phân tích các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanh thu và cổ tức kỳ vọng ở mức cao trong thời gian ngắn, sau đó sẽ ổn định ở mức bình thường hoặc không đổi: T (1 g1 )t DT (1 g 2 ) V D0 (2.4) t 1 (1 ke ) (ke g 2 )(1 ke )T t Như vậy, mô hình định giá cổ phiếu có thể áp dụng để định giá cổ phiếu trong trường hợp công ty chi trả cổ tức hàng năm, và tốc độ tăng trưởng cổ tức cổ định trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là không thể áp dụng đối với trường hợp công ty giữ lại toàn bộ lợi nhuận để tái đầu tư và không chi trả cổ 12 tức.
Trong trường hợp này, mô hình định giá cổ phiếu theo phương pháp chiết khấu dòng tiền có thể được sử dụng. * Phương pháp định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu dòng tiền: Theo phương pháp này, giá cổ phiếu được xác định dựa trên việc chiết khấu về hiện tại các giá trị ở tương lai của dòng tiền doanh nghiệp theo mức lãi suất chiết khấu của dòng tiền đó. Phương pháp này thường hữu ích đối với doanh nghiệp không trả cổ tức.