Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. 2 Chương này có nhiệm vụ diễn tả các khía niệm về bất bình đẳng thu nhập, tăng trưởng kinh tế. Tổng quan các tài liệu trước đó về các hình thức đo lường, nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng thu nhập, các chiều hướng ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Thực trạng vấn đề về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Nội dung của chương này là để mô tả dữ liệu về tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập của các địa phương. Sự thay đổi về bất bình đẳng thu nhập ở các địa phương từ 2010 đến 2014. Trình bày khai thác dữ liệu từ hai bộ dữ liệu VHLSS2010 và VHLSS2014 của Tổng Cục thống kê cho nghiên cứu. Chương 4: Phân tích dữ liệu.
Mục tiêu của chương này là tiến hành phân tích, đo lường mức độ thay đổi bất bình đẳng thu nhập theo tăng trưởng kinh tế ở các địa phương. Độ co giản của bất bình đẳng thu nhập theo tăng trưởng kinh tế xác định xu hướng thay đổi của các tiêu chuẩn đo lường mức độ bất bình đẳng. Tìm ra bằng chứng tác động ngược trở lại của bất bình đẳng thu nhập tới phát triển kinh tế của các địa phương. Đo lường các yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi phân phối thu nhập.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 2. Khái niệm thu nhập và thu nhập bình quân đầu người Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó. Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận kinh doanh.
Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản ánh “mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư”. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói, giảm nghèo. Thu nhập bình quân đầu người được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ. Tổng thu nhập của hộ dân cư trong năm Thu nhập bình quân (tính bằng VND) = đầu người Số nhân khẩu bình quân năm của hộ 2.
Bất bình đẳng trong thu nhập. Bất bình đẳng thu nhập đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phối không đều giữa các cá nhân hoặc các hộ gia đình trong nền kinh tế. Để xem xét mức độ bất bình đẳng thu nhập người ta thường dựa vào tỷ trọng thu nhập được nhận bởi bao nhiêu phần trăm dân số. Bất bình đẳng thu nhập thường được gắn với ý tưởng về sự không công bằng.
Nếu như những người giàu nhận phần lớn hơn đáng kể trong thu nhập quốc dân so với tỷ lệ trong dân số thì thường được coi là không công bằng. Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế. Có rất nhiều thước đo bất bình đẳng thu nhập mỗi thước đo đều có những ưu, nhược điểm chung. Luận văn này chỉ giới thiệu các thước đo phổ biến nhất.
Tỉ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1). Cách đơn giản nhất để đo lường bất bình đẳng về phân phối thu nhập là thống kê sắp xếp các cá nhân theo mức tăng dần rồi chia tổng dân số thành các nhóm. Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có quy mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập. Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận 20% thu nhập.
Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình thì 20% gia đình giàu nhất sẽ nhận tất cả thu nhập và các nhóm gia đình khác không nhận được gì. Tất nhiên, nền kinh tế thực tế nằm ở đâu đó giữa 02 thái cực này. Một chi tiêu đơn giản nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng về thu nhập là tỉ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1). Chỉ tiêu này dễ tính, đơn giản và dễ sử dụng, chỉ tính thu nhập của hai nhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản ánh được toàn cảnh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư.
Đường cong Lorenz. tỉ trọng thu nhập 000 45 0 60 000 20 60 phần trăm dân số có thu nhập 0 0 Hình 2.1 Đường cong Lorenz 000 000 5 Một cách phổ biến khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân là xây dựng đường Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz (1905). Đường cong Lorenz được vẽ trong một hình vuông mà trục hoành biểu thị phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỉ trọng thu nhập của các nhóm tương ứng. Đường chéo được vẽ từ tọa độ biểu thị tỉ lệ phần trăm thu nhập nhận đúng bằng tỉ lệ phần trăm của số người thu nhập.
Nói cách khác, đường chéo đại diện cho sự công bằng hoàn hảo của phân phối thu nhập theo quy mô: mọi người có mức thu nhập giống nhau. Còn đường Lorenz biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm thu nhập họ nhận được. Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng một cách dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm có thu nhập thấp nhất. Đường cong Loren càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng.
Đường Loren là một công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng của đường cong. Tuy nhiên, công cụ mang tính trực quan này còn quá đơn giản, chưa lượng hoá được mức độ bất bình đẳng và do đó khó có thể đưa ra các kết luận chính xác trong trường hợp phức tạp. Hệ số Gini. 100% % người thu nhập cao Lorenz A B 100% % người thu nhập thấp Hình 2.2 Hệ số Gini 6 N+1 2 GINI = - ∑ƥ i Xi N -1 N(N-1) µ Trong đó N là dân số µ là chi tiêu bình quân đầu người ƥ i là hạng biến thiên từ nghèo nhất đến giàu nhất Xi là chi tiêu đầu người Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê học người Italia (C.
Gini) được tính trên cơ sở đường Loren. Đây là một thước đo tổng hợp về sự bất bình đẳng. Nó được tính bằng tỉ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường cong Loren so với tỉ tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó. Đó là tỉ lệ giữa phần diện tích A so với tổng diện tích A+B.
Hệ số có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1. Hệ số Gini = 0 khi diện tích A = 0, có nghĩa đường Loren và đường đường chéo trùng nhau, chúng ta có bình đẳng tuyệt đối. Ngược lại, hệ số Gini = 1 khi diện tích B = 0 có nghĩa đương Lorenz nằm xa đường chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối (một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì). Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình đẳng thu nhập.
Các quốc gia có mức bình đẳng thu nhập thấp khi Gini < 0,4; bất bình đẳng thu nhập trung bình khi 0,4 ≤ Gini ≤ 0,5; và bất bình đẳng thu nhập cao khi Gini > 0,5. Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz, nó lượng hoá được mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bình đẳng thu nhập theo thời gian cũng như theo khu vực, vùng và quốc gia. Tuy nhiên, thước đo này cũng hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A như nhau nhưng sự phân bố của các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau (đường Lorenz có hình dạng khác nhau). Tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới.
Ngân hàng Thế giới (2003) đề xuất chi tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng tỉ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng số thu nhập toàn bộ dân cư. Theo chỉ tiêu này có 3 mức độ bất bình đẳng cụ thể: Nếu tỉ trọng này nhỏ hơn 12% là bất bình đẳng cao về thu nhập; trong khoảng từ 12% - 17% có sự bất bình đẳng trung bình và lớn hơn 17% là bất bình đẳng thấp. Các thước đo bất bình đẳng ở trên không chỉ tính theo thu nhập mà còn tính theo chi tiêu hay sở hữu tài sản như đất đai. Bất bình đẳng có thể tính riêng cho các vùng hay các nhóm dân cư.
Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập. Có nhiều lý thuyết được đưa ra nhằm giải thích hiện tượng bất bình đẳng trong thu nhập. Nhìn chung có thể giải thích về bất bình đẳng trong thu nhập theo hai hướng. Thứ nhất: theo Mark ,thu nhập quốc dân được chia làm hai phần, phần thứ nhất là tiền công người lao động, tiền công này chỉ đủ để người lao động trang trải cho cuộc sống của bản thân và gia đình.
Phần thứ hai là thu nhập của chủ doanh nghiệp, địa chủ. Với phần thu nhập này, nhà tư bản chi tiêu cho bản thân và gia đình nhưng vẫn dư ra một khoản để tiếp tục tái đầu tư mở rộng từ đó gia tăng sản xuất và lợi nhuận tăng thêm. Người lao động vẫn chỉ đủ sống trong khi đó nhà tư bản ngày một giàu thêm và gây nên tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập. Thứ hai: chia nguyên nhân bất bình đẳng trong thu nhập thành hai nhóm: Bất bình đẳng trong thu nhập trong phân phối thu nhập từ tải sản.
Theo đó trong nền kinh tế thị trường, các tài sản do các cá nhân nắm giữ sẽ mang lại thu nhập cho họ tùy vào giá trị, giá thuê các tài sản đó mà thu nhập mang đến sẽ khác nhau. Các tài sản này được hình thành chủ yếu từ việc thừa kế và tích lũy trong quá khứ.