CHƯƠNG I MOT SO QUAN NIEM VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỔ ĐẾN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN I. Một số quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đai hóa nông nghiệp, nông thôn Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là tất yếu khách quan đối với nước ta. Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý. Phấn đấu nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Thực trạng kém phát triển của nông nghiệp và nông thôn cùng với dân số nông thôn khoảng 80% dân số và lao động nông nghiệp khoảng 70% lao động cả nước là một cản trở lớn, một gánh nặng cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước sẽ không thành công nếu như không có sự chuyển biến cơ bản trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Do đó CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là tiền dé, 1a cơ sở, điều kiện để bảo đảm thắng lợi của CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) là sự cần thiết khách quan. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tạo thêm công ăn việc làm nhiều hơn và chuyển địch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Mục tiêu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là xây đựng một nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển bển vững với tốc độ cao trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế. hợp lý có công nghiệp va dịch vu, cơ sở hạ tầng phát triển nhằm tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gồm công nghiệp hóa , hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn: , Thứ nhất. CNH, HDH nông nghiệp là một bộ phận của CNH, HĐH nông thôn.
Nội dung chủ yếu của nó là áp dụng những thành tựu mới của KHKT va khoa học quản lý, đưa máy móc thiết bị và phương pháp sản xuất công nghiệp cùng các hình thức tổ chức sản xuất kiểu công nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp trên cơ sở đó nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ chỉ phí sản xuất. Nội dung này được cụ thể hóa trên các mặt cơ giới hóa, hóa học hóa, thủy lợi hóa, điện khí hóa và ứng dụng công nghệ sinh học trong các ngành sản xuất nông lâm thủy. Phải CNH, HĐH nông nghiệp bằng các trang bị công nghệ, thiết bị và sử dụng vật tư nguyên liệu tiên tiến cho sản xuất nông nghiệp để cải tạo nên nông nghiệp thủ công, lạc hậu, năng suất thấp, sản xuất tự túc thành nền nông nghiệp hiện đại, năng suất cao, chất lượng tốt và sẳn xuất hàng hóa. Thứ hai: CNH, HĐH nông thôn có phạm vị rộng hơn.
Nó bao gồm phát triển công nghiệp ở nông thôn, phát triển địch vụ, văn hóa-xã hội và cơ sở hạ tâng kỹ thuật và xã hội nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, rút ngắn khoảng cách giữa [pe nông thôn và thành thị. ; aking” CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL, có những mối quan | %5- hệ và mâu thuẫn cần giải quyết sau đây: mâu thuẫn giữa yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp với sự yếu kém hạn chế của công nghiệp vả khoa học công nghệ, mâu thuẫn giữa quá trình CNH, HĐH nông nghiệp với lực lượng lao động quá lớn, thiếu công ăn việc làm ở nông thôn, mâu thuẫn giữa yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật, quản lý trong nông nghiệp, nông thôn còn nhiều hạn chế, mâu thuẫn giữa yêu cầu sản xuất hàng hóa của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với thị trường, nhất là thị trường nông thôn còn hạn hẹp, mâu thuẫn giữa yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với trình dộ cơ sở hạ tầng nông thôn còn thấp kém, mâu thuẫn giữa yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với tình trạng lũ lụt của vùng, mâu thuẫn giữa yêu cầu đầu tư cao của quá trình CNH, HĐH với nguồn vốn còn hạn chế, mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng với cơ chế chính sách quản lý còn nhều diều bất cập. Do đó thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng cũng là quá trình giải quyết các mâu thuẫn chủ yếu nói trên. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vàng Vai trò của CNH, HĐH nông nghiệp trong phát triển như sau: Cung cấp lương thực - thực phẩm chất lượng cao, chi phi thấp, có khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới.
Cung cấp lao động cho công nghiệp do dư thừa lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp. Cung cấp đầu vào cho công nghiệp: ngành công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm sử dụng các nông sẵn làm nguyên liệu cho mình. Cung cấp vốn cho công nghiệp: nông nghiệp cung cấp thặng dư của mình cho CNH, HĐH nông thôn. Cung cấp ngoại tệ cho công nghiệp thông qua việc xuất khẩu nông sản, nông nghiệp đã tạo được nguồn ngoại tệ để CNH, HĐH.
Bảo đảm đâu ra cho công nghiệp do nông dân và nông nghieộ, nông thôn là thị trường to lớn cho hàng hóa tiêu dùng và tư liệu sản xuất. Tạo sự cân bằng sinh thái do phát triển nông lâm thủy. Việc đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bển vững có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế. ĐBSCL đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trong nông nghiệp, song nếu dừng lại ở những kết quả đạt được trong việc đưa KHKT vào sản xuất nông nghiệp như thời gian qua thì không thể có nền nông nghiệp phát triển bển vững, sản xuất hàng hóa có khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới.
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, năm 2006 hội nhập hoàn toàn vào AFTA, sản phẩm nông nghiệp vùng sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm cùng loại trong khu vực với ASEAN, Trung quốc. đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp của vùng phải có chất lượng cao và chỉ phí thấp. Điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vùng. Phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp bằng cách trang bị công nghệ, thiết bị và sử dụng vật tư tiên tiến cho sản xuất nông nghiệp để cải tạo nền nông nghiệp thủ công, lạc hậu, năng suất thấp sẳn xuất tự túc thành nền nông nghiệp hiện đại, năng suất cao, sản xuất hàng hóa.
Nền nông nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nền nông nghiệp mà quá trình sản xuất của nó phải được tiến hành trên cơ sở thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa và sinh học hóa ở trình độ cao. ' Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn CNH, HĐH nông thôn vùng thể hiện ở sự phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn cũng như ứng dụng kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại vào sản xuất. Cồng nghiệp nông thôn có vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của nông dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng các ngành phi nông nghiệp, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, cùng công nghiệp thành thị đóng góp ngày càng tăng vào GDP, thu ngân sách vùng. - Giải quyết vấn để dư thừa lao động trong nông thôn: ĐBSCL có dư thừa lao động.
Lực lượng lao động ở nông thôn chiếm trên 80%. Hàng năm lực lượng lao động thành thị tăng rất ít, trong khi số lao động tăng thêm hàng năm chủ yếu được thu hút vào nông nghiệp. Hiện tượng đất manh mún, nông dân không đất, thiếu đất sản xuất đang tăng lên. Từ những lý do này kết quả là tăng số người thất nghiệp ở nông thôn.
Sự phát triển công nghiệp nông thôn giúp cho lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn vẫn sống ở nông thôn có cơ hội tìm kiếm việc làm. Những nghiên cứu gần đây cho thấy: các ngắnh nghề hoạt động ở nông thôn đã thu hút khoảng 29,5% lực lượng lao động nông thôn, một tỷ lệ tuy chưa cao nhưng chiếm vị trí đáng kể về việc làm cho người lao động. Mô hình phát triển công nghiệp nông thôn góp phần giải tỏa áp lực đối với đất nông nghiệp, đối với việc làm mà không dổn gánh nặng cho khu vực thành thị và xã hội. - Công nghiệp nông thôn là công cụ để tăng thu nhập cho các hộ gia đình nông thôn.
Thực vậy, sản xuất nông nghiệp tăng trưởng trong thời gian qua chủ yếu tư sản xuất lúa gạo, song sản xuất lúa gạo phải chịu chi phi lớn và giá lại thấp, nhưng gặp phải khó khăn về đầu tư và thị trường. Thị trường thành thị chỉ chiếm gân 20% dân số, mức sống còn chưa cao, không thể hấp thụ hết được sản phẩm nông nghiệp. Hơn nữa sản phẩm nông nghiệp tham gia thị trường thế giới gặp khó khăn do chỉ phí sẩn xuất còn cao, chất lượng và vệ sinh thực phẩm còn chưa đáp ứng. Mặt khác cánh kéo giá nông sản và hàng công nghiệp ngày càng doãng ra.
Vì vậy giải pháp thay thế là cần thiết phải định hướng cho nông dân chuyển sang sẩn xuất công nghiệp tại "nông thôn, có thể coi đây là mục tiêu để nâng cao mức sông nông dân, không thể nâng cao mức sống nông dân bằng chính sản xuất nông nghiệp được.Trong những năm qua , hoạt động ngành nghề mang lại thu nhập lớn gấp 2-3 lần so với nông nghiệp. Bình quân thu nhập của một người trong hộ chuyên nghề phi nông nghiệp là 430.000 đồng/ tháng, hộ kiêm nghề từ 190.000 đồổng/tháng, trong đó thu nhập từ ngành nghề chiếm khoảng 40-75% tổng thu nhập của gia đình, ở nhiều hộ thu nhập từ ngành nghề đã là nguồn tích lũy và làm giầu. Đối với cộng đồng daf cu nông thôn ngành nghề đã trở thành biểu tượng của sự làm giầu và phát triển trong tương lai. - Giải quyết tốf vấn để thị trường: Như đã biết, thị trường trong nước và trên thế giới có nhu cầu lớn về sản phẩm nông nghiệp, mà sản phẩm của ta lại bị ứ đọng.