CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu nghiên cứu trong nước liên quan tới chính sách hợp tác quốc tế về khoa học công, nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) mặc dù chỉ mới được các nhà nghiên cứu và học giả thực hiện trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, nhưng cũng đã thể hiện sự đa dạng và phong phú về góc tiếp cận, nội dung và kết quả nghiên cứu. Nhằm cung cấp được cái nhìn toàn cảnh và hệ thống liên quan tới nội dung nghiên cứu, luận án đã phân loại các nghiên cứu này theo hai nhóm nội dung chính, cụ thể như sau: Thứ nhất, các nghiên cứu về đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Điểm nổi bật đầu tiên có thể nhận thấy trong các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này là sự khẳng định xu thế tất yếu của hội nhập quốc tế về KHCN&ĐMST.
Các tác giả đều khẳng định rằng hội nhập quốc tế về KHCN&ĐMST là một thành tố không thể thiếu trong chính sách đối ngoại nói chung của các quốc gia (Đặng Bảo Hà, 2011; Đỗ Hoài Nam, 2016; Đỗ Hương Lan, 2015; Mai Thanh Hà, 2015) và dần trở thành một phương thức quan hệ giữa các đối tác trên thế giới (Mai Thanh Hà, 2015). Để chứng minh cho tính tất yếu này, các học giả đã đánh giá vai trò của KHCN&ĐMST đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế trên nhiều góc độ khác nhau. Mở rộng phương thức hợp tác từ phạm vi trong nước ra quốc tế, Đỗ Hương Lan (2015) và Nguyễn Danh Sơn (2003) khẳng định hợp tác quốc tế về KHCN&ĐMST là tiền đề quan trọng để các nước xây dựng nền KH&CN nội sinh, tức là mượn hợp tác quốc tế làm bàn đạp để tích lũy động lực cho sự phát triển về chất của chính bản thân nền khoa học công nghệ, từ đó giúp nền kinh tế phát triển theo chiều sâu. Có quan điểm tương tự, báo cáo của Cục Thông tin Khoa học công nghệ quốc gia (2012) đã khẳng định vai trò của KHCN&ĐMST đối với sự gia tăng năng suất lao động tổng thể của nền kinh tế, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (Nguyễn Danh Sơn, 2003).
8 Trong một nghiên cứu chuyên sâu về kinh nghiệm triển khai hợp tác công-tư về KH&CN của Hoa Kỳ, Cục thông tinkhoa học và công nghệ quốc gia (2013) chỉ ra rằng hình thức hợp tác giữa các cá nhân và tổ chức tư nhân với các viện nghiên cứu công lập là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả của hỗ trợ chính phủ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Nghiên cứu này chỉ ra mục tiêu thông thường của hợp tác quốc tế công-tư về KHCN&ĐMST giúp (i) giải quyết các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, hải dương học, năng lượng tái tạo và khám phá vũ trụ (tức là các dự án khoa học lớn); (ii) thúc đẩy hợp tác kinh tế - xã hội trong phạm vi khu vực và toàn thế giới về R&D thông qua các hiệp định song phương và đa phương; và (iii) chuyển giao công nghệ với vai trò là hình thức hợp tác chủ yếu giữa các nước tiên tiến và các nước đang phát triển và là một phần trong các hiệp định thương mại/mậu dịch. Ngoài ra, một mục tiêu khác của mối quan hệ hợp tác xuyên biên giới đó là sự thúc đẩy kết nối mạng lưới giữa các thành phần trong hệ thống đổi mới quốc gia (NIS). Bàn về mô hình hợp tác trong KHCN&ĐMST giữa các quốc gia, Đặng Bảo Hà (2011) nhận thấy mô hình hợp tác có thể diễn ra đa dạng giữa các nước có trình độ khoa học khác nhau và có thể được thực hiện thông qua hoạt động thương mai quốc tế và đầu tư trực tiếp của các công ty đa quốc gia.
Trong hoạt động hợp tác quốc tế giữa hai quốc gia không có sự tương đồng về trình độ khoa học này, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia kém hoặc đang phát triển về KH&CN, đòi hỏi các nước tiếp phải nâng cao năng lực hấp thụ (absorb capacity) thông qua nâng cấp hạ tầng cơ sở về khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Không chỉ thế, Phùng Anh Tiến và đồng nghiệp (2013) đã chứng minh được mối quan hệ thuận chiều giữa tăng trưởng kinh tế và trình độ phát triển của KH&CN quốc gia là do khi kinh tế tăng trưởng cao thường dẫn đến gia tăng chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Đứng trên góc tiếp cận bình đẳng hơn, Đỗ Hương Lan (2015) thông qua nghiên cứu tình huống mối quan hệ hợp tác về KH&CN của Việt Nam với một số quốc gia khác như Nga, Belarus, Kazakhstan, v. đã đề xuất mô hình hợp tác cho các quốc gia có cùng trình độ khoa học bằng các giải pháp liên quan đến sở hữu trí tuệ, ngoại giao khoa học và một số biện pháp hỗ trợ tài chính khác.
9 Thứ hai là các nghiên cứu liên quan đến chính sách hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu thuộc nội dung này chủ yếu tập trung vào phân tích và đánh giá hiện trạng của hoạt động hợp tác quốc tế về KHCN&ĐMST làm căn cứ đưa ra những khuyến nghị về mặt chính sách, bao gồm cả thực trạng thiết kế và thực thi chính sách của Việt Nam trong tương quan với các quốc gia khác trên thế giới. Các nghiên cứu đều có chung nhận định rằng, chiến lược thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN là sự kết hợp của nhiều chính sách đa dạng (Cục Thông tin KH&CN quốc gia, 2012;Đỗ Hương Lan, 2015; Đỗ Hoài Nam, 2016). Trong đó, các chính sách của các quốc gia tập trung khai thác các thế mạnh của mình như (i) chính sách tiếp cận thị trường mở và không phân biệt đối xử (Cục Thông tin KH&CN quốc gia, 2012), (ii) chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài (Đặng Bảo Hà, 2011); (iii) chính sách tài khóa và chi tiêu công (Nguyễn Danh Sơn, 2003); (iv) chính sách khuyến khích nhập cư của lao động trình độ cao (Cục Thông tin KH&CN quốc gia, 2012); hoặc (v) chính sách chuyển giao công nghệ và đổi mới và sáng tạo (Nguyễn Danh Sơn, 2003; Đỗ Hương Lan, 2015).
Đỗ Hoài Nam (2016) trong luận án nghiên cứu về chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và đề xuất chính sách thu hút công nghệ nước ngoài vào Việt Nam. “Nghiên cứu chính sách khoa học công nghệ của Việt Nam phục vụ hội nhập quốc tế” của Viện chính sách chiến lược khoa học công nghệ đã khái quát tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập KH&CN ở Việt Nam, những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế về KH&CN của Việt Nam (Nguyễn Danh Sơn, 2003). Bên cạnh đó, đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện, đổi mới chính sách KH&CN hướng vào phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm: các giải pháp liên quan tới chính sách KH&CN hướng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; các giải pháp tập trung vào nâng cao năng lực nội sinh về khoa học công nghệ. Liên quan tới thực trạng chính sách hợp tác quốc tế về KHCN&ĐMST của Việt Nam, các nghiên cứu được thực hiện trên các góc nhìn khác nhau và kiến nghị đề xuất trên các khía cạnh tương ứng.
Đứng trên góc nhìn chiến lược phát triển với 10 tầm nhìn dài hạn, Đỗ Hoài Nam (2016) đã rà soát cơ sở lý luận của hội nhập quốc tế về KH&CN và thực trạng thực hiện hội nhập trên lĩnh vực này của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2015. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp về thể chế và chính sách phát triển KH&CN để góp phần tạo ra những đột phát trong phát triển khoa học công nghệ với vai trò là động lực to lớn trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Với góc tiếp cận của kinh tế học thể chế, nghiên cứu của Đào Thanh Trường (2016) đã tìm hiểu hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (STI) quốc gia xác định được các chủ thể quan trọng cho sự phát triển của KHCN&ĐMST là các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đưa ra các luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chính sách phát triển hệ thống KHCN&ĐMST của Việt Nam trong quá trình hội nhập với sự phát triển chung của KH&CN thế giới.
Công trình cũng đã đề xuất những giải pháp đồng bộ có liên quan đến các chủ thể cốt lõi của hệ thống KHCN&ĐMST, nhận dạng được hệ thống đổi mới quốc gia ở Việt Nam hiện nay trong bối cảnh hội nhập khoa học công nghệ quốc tế, đồng thời khẳng định thể chế là cốt lõi trong hệ thống NIS. Công trình đã đưa ra những điểm chính trong chính sách tăng cường liên kết giữa các thành phần đó, tuy nhiên, chưa thực sự rõ ràng và cần thêm nhiều nghiên cứu để trả lời câu hỏi làm thế nào để tăng cường liên kết giữa các thành phần thuộc hệ thống. Đối với mục tiêu nâng cao hiệu quả của hoạt động hợp tác quốc tế về KHCN&ĐMST, Đỗ Đức Bình và Nguyễn thị Hồng Thúy (2018) đã chỉ ra những bất cập trong các chính sách có liên quan, bao gồm: (i) chưa thực sự đáp ứng các yêu cầu đặt ra của sự phát triển kinh tế - xã hội; (ii) thiếu các điều kiện để thúc đẩy mở rộng chính sách theo hướng hiệu quả và bền vững bao gồm đảm bảo lợi ích cho chủ thể tham gia và đảm bảo về nguồn lực; (iii) tiềm lực về KH&CN bao gồm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống cơ sở hạ tầng còn thua kém nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước về vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và thực trạng triển khai các chính sách thúc đẩy hợp tác quốc tế về 11 KHCN&ĐMST có tính khái quát cao, khẳng định được tầm quan trọng ngày càng lớn của KHCN&ĐMST đối với tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong sản xuất mà trong đó hợp tác quốc tế về KHCN&ĐMST là phương thức quan trọng giúp Việt Nam tiếp cận gần hơn với những tri thức khoa học, công nghệ của thế giới.