CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH TẾ XANH 1. Cơ sở lý luận của chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Khái quát về kinh tế học “xanh” và nền kinh tế "xanh. Những năm cuối thế kỷ 20 và thập niên đầu của thế kỷ 21 đã chứng kiến nhiều biến động cả về kinh tế, chính trị cũng như trên nhiều phương diện khác của đời sống xã hội.
Biến đổi khí hậu (BĐKH), khủng hoảng tài chính và toàn cầu hóa vượt khỏi tầm kiểm soát - tất cả các vấn đề lớn đối với thế giới có nguồn gốc từ hệ thống kinh tế hiện tại. Rõ ràng rằng con đường phát triển thế giới hiện nay là không bền vững trong dài hạn, dù những tiềm năng to lớn của thị trường và đổi mới công nghệ là có thật. Một tầm nhìn mới và con đường phát triển thế giới phải được hình thành và được thông qua nếu nhân loại muốn vượt qua những thách thức phía trước. Kinh tế học xanh ra đời, lập luận rằng xã hội cần phải nằm trong hệ sinh thái, và rằng các thị trường và nền kinh tế là những cấu trúc xã hội cần đáp ứng những ưu tiên về xã hội và môi trường.
Sự hình thành của lý thuyết kinh tế xanh Ý tưởng về phát triển bền vững và lý thuyết kinh tế xanh đã được hé mở bởi Rachel Louise Carson – nữ giáo sư sinh thái học người Mỹ vào năm 1962. Với tác phẩm nổi tiếng “The Silent Spring” (Mùa xuân im lặng), bà đã đưa ra những cảnh báo đầu tiên về hiệu ứng tiêu cực của tăng trưởng kinh tế tới môi trường. Nhận định của Rachel L. Carson “Mọi người đang phá hủy thế giới” từ những bằng chứng về tác hại của thuốc trừ sâu DDT và những loại thuốc diệt côn trùng khác được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp đã được đưa lên bàn 10 z họp của Nhà Trắng và là tác nhân quan trọng dẫn đến sự ra đời của Ủy ban điều tra thảm họa môi trường do tổng thống Kenedy thành lập.
Cuốn sách của bà đã gây ra tiếng vang lớn, được dịch ra nhiều thứ tiếng và đã làm dấy lên nhiều phong trào môi trường rầm rộ ở khắp nơi. Trải qua gần 5 thập kỷ, đến nay những cảnh báo của Carson đã dần trở thành sự thật. Cũng trong khoảng thời gian này, nhận thức và hành động của thế giới đối với vấn đề phát triển xanh và bền vững đã đạt được nhiều bước tiến. Hàng loạt những sự kiện, hội nghị, những tuyên bố, thỏa thuận Quốc tế về những vấn đề phát triển bền vững và xanh hóa nền kinh tế đã diễn ra trong suốt nhiều thập kỷ qua.
Có thể kể ra là: Tuyên bố của hội nghị lần thứ nhất của Liên Hợp Quốc (LHQ) về môi trường và con người vào tháng 6/1972 (Tuyên bố Stockholm. Tuyên bố đã đưa ra những nguyên tắc cho những vấn đề môi trường Quốc tế khác nhau, bao gồm quyền con người, quản lý tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn ô nhiễm môi trường và phát triển. Công bố Báo cáo Brundtland của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển của LHQ năm 1987. Tại Hội nghị LHQ về con người và môi trường năm 1972, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), nay là Ủy ban Brundtland, được thành lập.
Đến nay, ủy ban Bruthland đã được ghi nhận có những cống hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững. Năm 1987, Ủy ban xuất bản Báo cáo Brundtland với tiêu đề “Tương lai chung của chúng ta” (Our Common Future), và đã đặt các vấn đề môi trường lên chương trình nghị sự chính trị và coi thảo luận về môi trường và phát triển chỉ là một vấn đề đơn nhất. Lần đầu tiên định nghĩa về phát triển bền vững được nêu ra, đó là: “Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai” [26]. 11 z Tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất ở Rio de Janerio, Brazil (tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của LHQ ) năm 1992 và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21): Chương trình nghị sự 21 là một kế hoạch hành động của LHQ liên quan đến Phát triển bền vững, trong đó trình bày các nội dung chính: (1) Các khía cạnh kinh tế xã hội, (2) Bảo tồn và quản lý tài nguyên cho sự phát triển, (3) Tăng cường vai trò của những nhóm lớn (major groups), và (4) Các công cụ thực hiện.
Chương trình nghị sự 21 nhấn mạnh các vấn đề bức xúc hiện tại và cũng nhằm mục đích chuẩn bị cho thế giới cách đối phó với những thách thức của thế kỷ tiếp theo, phản ánh một sự đồng thuận toàn cầu và cam kết chính trị ở cấp cao nhất về phát triển và hợp tác môi trường. Đây là một kế hoạch hành động toàn diện cho các tổ chức cấp Quốc tế, Quốc gia, và địa phương của LHQ, cho các chính phủ và những nhóm chủ yếu ở mọi nơi mà con người đang tác động trực tiếp đến môi trường [20] Các công cụ hỗ trợ thực hiện Chương trình nghị sự 21 gồm có: (1) Cơ chế và nguồn lực tài chính, (2) Chuyển giao công nghệ, tổ chức và xây dựng năng lực bền vững với môi trường, (3) Khoa học cho phát triển bền vững, (3) Thúc đẩy giáo dục, đào tạo và ý thức cộng đồng, (5) Cơ chế Quốc gia và tổ chức Quốc tế cho việc xây dựng năng lực của các nước đang phát triển, (6) Các thỏa thuận, điều ước thể chế Quốc tế, (7) Các cơ chế và công cụ pháp lý Quốc tế, và (8) Thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định. Bên cạnh Chương trình nghị sự 21, Hội nghị cũng đã đưa ra Tuyên bố Rio và xây dựng được ba công cụ để giám sát môi trường toàn cầu. Đó là Công ước khung của LHQ về BĐKH (UNFCCC), Công ước về đa dạng sinh học và Tuyên bố những nguyên tắc về rừng.
12 z Nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính Theo Công ước khung của LHQ về BĐKH, những giải pháp ban đầu mà các nước đưa ra là việc tập trung vào việc kiểm soát và hạn chế phát thải các khí gây hiệu ứng nhà kính trong sản xuất công nghiệp và trong đời sống – nguyên nhân cơ bản dẫn đến BĐKH. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của Nghị định thư Kyoto (khởi đầu năm 1997 và có hiệu lực từ năm 2005). Những Quốc gia tham gia kí kết Kyoto phải chấp nhận việc cắt giảm khí CO2 và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác, hoặc có thể tiến hành biện pháp thay thế như Thương mại Phát thải (Emission Trading) nếu không muốn đáp ứng yêu cầu đó. Trên cơ sở sự đồng thuận giữa các Quốc gia, hệ thống các nghiên cứu và các chính sách thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp theo hướng thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, đã được triển khai.
Đây là khởi nguồn của những thuật ngữ “- sinh thái” (-eco) trong đời sống kinh tế xã hội. Hầu hết những điều khoản trong Nghị định thư là yêu cầu đối với các nước công nghiệp phát triển - được liệt vào nhóm Annex I trong UNFCCC, và không có hiệu lực đối với các nguồn khí thải đến từ lãnh vực hàng không và hàng hải thuộc phạm vi Quốc tế. UNFCCC nhấn mạnh về trách nhiệm chung của các nước tham gia nhưng cũng cho phép sự khác biệt của từng nước, trong đó: (1) Vấn đề khí thải gây hiệu ứng nhà kính đã xuất hiện từ rất lâu và phần nhiều liên quan đến các nước công nghiệp phát triển, (2) Lượng khí thải tính theo đầu người tại các nước đang phát triển nhìn chung là không cao, và (3) Phần khí thải của các nước đang phát triển phải được tăng lên để đáp ứng cho nhu cầu hiện tại của xã hội và để thỏa mãn các nhu cầu phát triển khác. Điều này có nghĩa là, những Quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước đang phát triển khác không bị ràng buộc bởi những hạn mức trong Nghị định thư Kyoto do không 13 z phải là những nhân tố chính tham gia vào thời kì phát triển tiền công nghiệp.
Tuy nhiên, những nước này vẫn có trách nhiệm chia sẻ những quan điểm chung với các nước khác về trách nhiệm đối với vấn đề cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính [36]. Nghị định thư có hiệu lực với hơn 170 Quốc gia, chiếm khoảng 60% các nước liên quan đến vấn đề khí thải nhà kính. Tính đến tháng 12 năm 2007, Hoa Kỳ và Kazakhstan là hai nước duy nhất không tiến hành các biện pháp cắt giảm dù có tham gia kí kết nghị định thư [21] Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ được thông qua năm 2000 Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của LHQ năm 2000, 189 Quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ và cam kết đạt được 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015, gồm có: MDG 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói MDG 2: Đạt phổ cập giáo dục tiểu học MDG 3: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ MDG 4: Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em MDG 5: Nâng cao sức khỏe bà mẹ MDG 6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác MDG 7: Đảm bảo bền vững về môi trường MDG 8: Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển Kế hoạch Johannesburg về thi hành đầy đủ Chương trình nghị sự 21 thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất năm 2002 Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất lần thứ 2 được tổ chức ở Johannesberg, Nam Phi. Đây là hội nghị xây dựng đối tác cho sự phát triển bền vững.
Ba trụ cột chính đề tiếp cận sự bền vững là: Kinh tế, môi trường và công 14 z bằng xã hội. Đây là một cách tiếp cận toàn diện hơn và những nội dung trong Chương trình nghị sự 21 được làm rõ, cụ thể hóa với những bước cụ thể hơn nhằm mục tiêu thực hiện thành công chương trình này. Cách tiếp cận bền vững này cũng được coi là cơ sở đầu tiên cho sự ra đời của các khái niệm “nền kinh tế xanh”, “tăng trưởng xanh” đang trở nên rất nóng hổi trên các diễn đàn nghị sự Quốc tế và Quốc gia, cũng như các tổ chức xã hội phi chính phủ trên thế giới.