CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa ODA và tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận. Các quốc gia nhận ODA, là những vùng lãnh thổ đủ điều kiện nhận hỗ trợ tài chính, được Ngân hàng Thế giới và Liên hợp quốc phân loại, đồng thời các quốc gia và vùng lãnh thổ đủ điều kiện nhận ODA được OECD công bố trong danh sách hỗ trợ phát triển.
Các nước nhận ODA bao gồm các nước có thu nhập trung bình, các nước có thu nhập trung bình thấp và các nước kém phát triển nhất đều là đại diện của các nước đang phát triển Vốn ODA có tác động cùng chiều, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được tìm thấy tại rất nhiều nghiên cứu của nước ngoài từ thập kỷ trước. Nghiên cứu của Durbarry và cộng sự (1998) cho thấy viện trợ nước ngoài có một số tác động tích cực đến tăng trưởng, tạo điều kiện cho một môi trường chính sách kinh tế vĩ mô ổn định. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có những tác động tích cực và đáng kể đến tăng trưởng GDP của Pakistan cả trong ngắn hạn và dài hạn (Javaid, 2017). Nghiên cứu của Lee và Alemu (2015) được thực hiện trên 39 quốc gia châu Phi, trong đó có 19 quốc gia có thu nhập thấp cho thấy tác động của viện trợ đối với tăng trưởng kinh tế là tích cực đối với các quốc gia có thu nhập thấp so với các quốc gia có thu nhập trung bình.
Juselius cùng cộng sự (2014) cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa viện trợ và tăng trưởng từ 36 quốc gia châu Phi trong giai đoạn 1960–2007. Sử dụng dữ liệu hàng năm được thu thập từ 71 quốc gia nhận viện trợ trong giai đoạn 1960–1997, Karras (2006) đã tìm thấy tác động tích cực của viện trợ đối với tăng trưởng kinh tế. Moolio và Kong (2016) đã nghiên cứu mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng tại hội thảo của bốn quốc gia châu Á, đó là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2014 và nhận thấy tác động tích cực của viện trợ đối với tăng trưởng kinh tế. Bằng chứng từ nghiên cứu được thực hiện đối với tám quốc gia WAEMU từ năm 2002 đến năm 2013 cũng cho thấy tác động thuận lợi của viện trợ đối với tăng trưởng kinh tế (Aboubacar và cộng sự, 2015).
Tuy nhiên, vốn ODA cũng được tìm thấy có tác động ngược chiều, hạn chế tăng trưởng kinh tế. Moreira (2005) chỉ ra tại các nước đang phát triển khoản viện trợ nước ngoài đã có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế theo khía cạnh vi mô trong khoảng gần 30 năm từ năm 1970-1998. Tuy nhiên, ở khía cạnh vĩ mô, kết quả lại chưa tìm thấy tác động của viện trợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Mallik (2008) đã nghiên cứu tác động của viện trợ nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở sáu nước nghèo châu Phi mắc nợ cao.
Những phát hiện của ông chỉ ra rằng mặc dù không có mối quan hệ đáng kể trong ngắn hạn giữa viện trợ và tăng trưởng kinh tế, nhưng có mối quan hệ tiêu cực trong 4 Thư viện ĐH Thăng Long dài hạn giữa các biến số ở 5 trong số 6 quốc gia. Yiew và Lau (2018) nhận thấy bản chất phi tuyến tính của mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng từ nghiên cứu được thực hiện trên 95 quốc gia đang phát triển. Trong nghiên cứu của mình, họ đã thu được mối quan hệ hình chữ U giữa các biến số, hàm ý rằng tác động của viện trợ tới tăng trưởng kinh tế là tiêu cực ở mức độ dòng viện trợ thấp hơn tích cực ở mức cao hơn. Gyimah-Brempong cùng cộng sự (2012) cũng thu được mối quan hệ hình chữ U giữa viện trợ và tăng trưởng kinh tế.
Dựa trên dữ liệu được thu thập từ 77 quốc gia, nghiên cứu cho biết ngưỡng viện trợ mà tại đó viện trợ bắt đầu ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong khoảng từ 6,6 đến 14,4% tổng thu nhập quốc dân. Mbah và Amassoma (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng ở Nigeria. Kết quả họ thu được từ phân tích chuỗi thời gian cho thấy tác động tiêu cực của viện trợ đối với tăng trưởng kinh tế. Tác động tiêu cực của viện trợ đối với tăng trưởng kinh tế cũng được Tiwari (2011) rút ra từ nghiên cứu được thực hiện trên nhóm 28 quốc gia châu Á.
Các kết quả khác nhau thu được từ các nghiên cứu trước đây, đặc biệt là những nghiên cứu có tác động tiêu cực của viện trợ lên tăng trưởng đòi hỏi phải xem xét lại các điều kiện ở các nước tiếp nhận, vốn thường được gọi là “khả năng hấp thụ” trong các công trình nghiên cứu tăng trưởng-viện trợ. Dựa trên dữ liệu được thu thập từ 10 quốc gia châu Phi trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2012, Tang và Bundhoo (2017) nhận thấy bản thân viện trợ không có ý nghĩa quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế về mặt thống kê, nhưng có ý nghĩa tích cực khi đi kèm với môi trường chính sách tốt. Fashina và cộng sự (2018) đã nghiên cứu mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng trong trường hợp của Nigeria từ năm 1984 đến năm 2016. Họ đưa bình phương viện trợ vào mô hình của mình để khám phá bản chất của mối quan hệ giữa viện trợ và tăng trưởng kinh tế.
Trong nghiên cứu này, viện trợ và bình phương viện trợ được tìm thấy có ý nghĩa thống kê với các hệ số dương và âm tương ứng, và điều này khẳng định giả thuyết về mối quan hệ hình chữ U ngược giữa các biến. Hơn nữa, các tác giả nhận thấy rằng viện trợ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi được cung cấp để tài trợ cho giáo dục. Tương tự, Abate (2022) điều tra xem liệu dòng viện trợ quá nhiều đổ vào các nước đang phát triển là có lợi hay có hại cho nền kinh tế của họ và liệu chất lượng thể chế và tự do kinh tế có quan trọng trong mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng hay không. Dựa trên dữ liệu bảng trong giai đoạn 2002–2019 được thu thập từ 44 quốc gia đang phát triển trên thế giới, kết quả thu được cho thấy mối quan hệ giữa viện trợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế có dạng chữ U ngược cho thấy sự tồn tại của mức viện trợ tối ưu bằng 9,7% tổng thu nhập quốc dân.
Kết quả cho thấy tác động của viện trợ đối với tăng trưởng kinh tế là tích cực, điều đó có nghĩa là chất lượng thể chế và tự do kinh tế đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ viện trợ-tăng trưởng. Dựa trên kết quả thu được, nghiên cứu cho thấy các nước đang phát triển không nên nhận số tiền viện trợ khổng lồ từ các nhà 5 tài trợ, hãy cải tổ thể chế của họ để tốt hơn và cải thiện tự do kinh tế nếu muốn thu được lợi ích từ viện trợ. Việc đánh giá động cơ của các nhà tài trợ đằng sau viện trợ cho các nước kém phát triển là rất quan trọng trong mối quan hệ tăng trưởng và viện trợ. Khi xem xét một số động lực để các nước phát triển ứng trước một lượng viện trợ nhất định, chúng dường như là những tác nhân kinh tế hợp lý nhằm tối đa hóa lợi ích của chính họ hơn là hỗ trợ nền kinh tế của các nước đang phát triển.
Ví dụ, “ràng buộc” viện trợ đề cập đến tình huống quốc gia nhận viện trợ được yêu cầu mua hàng hóa từ quốc gia tài trợ (Kwakye, 2010). Điều này cho thấy mục đích của các nhà tài trợ là tạo ra hoặc mở rộng thị trường cho xuất khẩu của họ hơn là hỗ trợ nền kinh tế của người nhận. Động lực đằng sau dòng viện trợ từ Hoa Kỳ chủ yếu là do cân nhắc về mặt chính trị, chiến lược và tình hình quản lý ở quốc gia nhận viện trợ, mặc dù ở một mức độ nào đó là hỗ trợ nhân đạo. Ví dụ, viện trợ của Hoa Kỳ cho Ai Cập và Israel xuất phát từ mong muốn gây ảnh hưởng đến chính trị Trung Đông.
Hai tổ chức tài chính lớn nhất thế giới như Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế, lại yêu cầu một số cải cách kinh tế ở quốc gia tiếp nhận. Từ đó có thấy rằng có một yếu tố quan trọng trong hành vi tư lợi khi các nhà tài trợ cung cấp viện trợ cho các nước tiếp nhận, điều này có thể trùng khớp hoặc khác với lợi ích kinh tế của các nước tiếp nhận. Trong trường hợp động cơ là hỗ trợ nước tiếp nhận, viện trợ có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong khi viện trợ là hình thức làm tối đa hóa lợi ích của nước phát triển thì lại không đóng góp vào tăng trưởng kinh tế 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Vấn đề về tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước.
Các công trình nghiên cứu này đã tập trung vào việc đánh giá và phân tích các khía cạnh khác nhau của tương tác giữa nguồn vốn ODA và sự phát triển kinh tế của đất nước. Nguyễn Hoàng Thị Bích Trâm và Quách Doanh Nghiệp (2016) tìm thấy ở Việt Nam, ODA tác động âm lên tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng tác động dương lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Dòng vốn ODA cũng tìm thấy có tác động âm đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn (Hoàng Vũ Hiệp và Ngô Quốc Dũng, 2016). Nguyễn Phúc Cảnh và Phạm Gia Quyền (2017) xem xét sự tác động của các dòng vốn nước ngoài trong đó hỗ trợ phát biểu chính thức (ODA) và độ mở thương mại đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2014.
Các bằng chứng thực nghiệm chỉ ra dòng vốn ODA thể hiện tác động làm giảm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Nguyễn Thanh Cai và Nguyễn Minh Hải (2022) chỉ ra cơ cấu đầu tư ODA bất hợp lý, hiệu quả đầu tư kém sẽ hạn chế tăng trưởng, thậm chí tác động ngược chiều với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1993 – 2020. Đầu tư ODA có tác động ngược chiều với tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng 6 Thư viện ĐH Thăng Long rất nhỏ đến tăng trưởng kinh tế. Nguyễn Hoàng Quý (2016) nghiên cứu tác động của viện trợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.