Chương 1 sẽ giới thiệu bối cảnh chính sách, vấn đề chính sách, phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, điểm mới và hạn chế của luận văn. Chương 2 giới thiệu tổng quan về cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về dịch chuyển - cấu phần và nguồn gốc tăng trưởng và cách áp dụng cách tính này để phân tích tăng trưởng của An Giang. Chương 3 trình bày kết quả phân tích, đầu tiên là phân tích hiệu ứng của quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế với tăng trưởng năng suất. Sau đó phân tích từng yếu tố riêng lẻ tác động đến tăng trưởng, gồm: vốn, lao động và TFP.
Xen kẽ từng phần là liên hệ tăng trưởng kinh tế, TFP với tăng trưởng năng suất lao động trong nội ngành và do tác động của việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Chương 4 gợi ý chính sách dựa trên các kết quả phân tích ở các chương trước và kết luận. -5- CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết 2.
Tăng trưởng kinh tế và nguồn gốc tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hay quy mô sản lượng quốc gia tính trên bình quân đầu người trong một khoảng thời gian xác định - thường là một năm. Các chỉ tiêu được sử dụng để đo lường tăng trưởng kinh tế như: GDP (tổng sản phẩm quốc nội/ trong nước), GNP (tổng sản phẩm quốc dân), NNP (sản phẩm quốc dân ròng), NI (thu nhập quốc dân)… Trong đó, chỉ tiêu GDP được sử dụng phổ biến hơn vì nó phản ánh được tổng thu nhập của mọi người trong nền kinh tế và tổng chi tiêu để mua sản lượng hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế.Tăng trưởng kinh tế biểu hiện qua giá trị tuyệt đối thông qua xem xét quy mô của GDP (∆Y = Yt - Yt-1) hay qua giá trị tương đối thông qua mức tăng trưởng GDP (g Y = ∆Y/Yt-1 x 100%). Tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất quyết định phúc lợi kinh tế của một quốc gia, do vậy, việc nghiên cứu các yếu tố quyết định nên tăng trưởng kinh tế là thực sự cần thiết. Để có được tăng trưởng kinh tế, nền kinh tế đó phải trải qua hai quá trình cơ bản: tích lũy các yếu tố sản xuất và tăng trưởng năng suất.
Tích lũy các yếu tố sản xuất là sự gia tăng về quy mô của các yếu tố sản xuất, như tăng quy mô trữ lượng vốn, tăng số lượng lao động… Tăng trưởng năng suất là sự gia tăng sản lượng được tạo ra bởi một cỗ máy hay một lao động, được tạo ra bởi cải thiện hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất hay thay đổi công nghệ. Năng suất có thể được xác định theo 2 cách cơ bản: năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp. Năng suất lao động được đo lường dựa trên số sản phẩm trên một lao động hay một giờ lao động. Còn năng suất các nhân tố tổng hợp - còn được gọi là TFP (Total Factor Productivity) - đo lường gián tiếp sự kết hợp có hiệu quả các yếu tố sản xuất và đóng góp của tiến bộ công nghệ, vai trò của thể chế và ảnh hưởng của các yếu tố -6- khác ngoài các yếu tố sản xuất được sử dụng phân tích.3 Các nhà kinh tế học xây dựng hàm sản xuất tổng quát với các yếu tố sản xuất chính (vốn, lao động, tài nguyên và công nghệ) để giải thích sự gia tăng sản lượng đầu ra từ các yếu tố đầu vào.
Trong nghiên cứu về nguồn gốc tăng trưởng thì hàm sản xuất theo dạng Cobb-Douglass (do hai nhà toán học và kinh tế học người Mỹ sáng lập) được sử dụng phổ biến. Cobb-Douglass là dạng hàm số phi tuyến tính, việc sử dụng hàm dạng này để phân tích mối quan hệ đầu ra – đầu vào phù hợp với thực tế là sản lượng đầu ra không tăng tuyến tính theo quy mô đầu vào. Mô hình đầu tiên nghiên cứu về nguồn gốc tăng trưởng là mô hình Solow của nhà kinh tế học Robert Solow. Hàm sản xuất của Solow gồm ba yếu tố đầu vào: vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuật.
Theo đó, sản lượng (tức đầu ra) sẽ phụ thuộc vào số lượng vốn và lao động (tức đầu vào); mà vốn thì có lợi tức biên giảm dần theo quy mô, nên tiến bộ kỹ thuật sẽ làm dịch chuyển hàm sản xuất theo thời gian. Kết luận của mô hình này là nền kinh tế sẽ đạt trạng thái tăng trưởng cân bằng trong dài hạn với tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng với tốc độ của tiến bộ kỹ thuật cộng với tốc độ tăng trưởng của lao động. Hàm sản xuất được xây dựng theo dạng phương trình toán học Cobb-Douglass với 3 yếu tố đầu vào: vốn (K), lao động (L) và tiến bộ công nghệ (A).1) “α”, “ß” là lũy thừa phản ánh độ co giãn của sản lượng lần lượt theo lao động, vốn. Tổng (α + ß) phản ánh sức sinh lợi theo quy mô, cho biết nền kinh tế đang ở trạng thái tăng hay giảm hoặc không đổi theo quy mô.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tăng trưởng, vì khi đã xác định trạng thái của nền kinh tế, các nhà phân tích sẽ đề ra những chính sách phù hợp với bối cảnh kinh tế. Phương pháp xác định nguồn gốc tăng trưởng 2. Dịch chuyển – cấu phần (shift – share analysis) 3 Trong mô hình của Solow, TFP còn được gọi là “phần dư” hoặc “số dư Solow”, tính từ phần tăng trưởng loại trừ hết các yếu tố sản xuất có trong mô hình. -7- Phương pháp dịch chuyển – cấu phần là một phương pháp toán học, dùng để phân tách sự thay đổi các cấu phần trong cấu trúc tổng thể, phản ánh sự thay đổi vị trí của các cấu phần và sự thay đổi trong nội bộ của các phần cụ thể tạo nên cấu phần.
Ứng dụng mô hình phân tích của Jan Fagerberg (2000), nội dung phân tích sẽ là tìm ra con số cụ thể trong tăng trưởng năng suất, bao nhiêu phần trăm là do tăng năng suất trong nội ngành và bao nhiêu phần trăm là do tăng năng suất do quá trình chuyển dịch và tìm đóng góp của từng bộ phận cấu phần trong tổng thế. Gọi P là năng suất lao động; Y là giá trị tăng thêm; L là lực lượng lao động tham gia nền kinh tế; i = (1,2,3), đại diện cho khu vực I, khu vực II, khu vực III.1) L Li Li Li i i Năng suất và tỷ trọng của từng khu vực như sau: Yi Li Pi và Si (b.3) i Đặt ΔP là phần thay đổi năng suất, ΔS là phần thay đổi tỷ trọng. Ta được: P P1 Po S S1 So , Thay vào phương trình (b.2), ta được: P Pio S i P i .S i P i Sio i [1] [2] [3] [1] Hiệu ứng tĩnh (static effect): được xem là giai đoạn đầu của quá trình chuyển dịch. Đầu tiên, số lao động sẽ dịch chuyển (ΔS≠0), năng suất lao động lúc này chưa thay đổi (Po).
Hiệu ứng tĩnh sẽ có tác động tích cực (>0) nếu lao động dịch chuyển từ khu vực có năng suất thấp sang năng suất cao; có tác động tiêu cực (<0) nếu lao động dịch chuyển từ khu vực năng suất cao sang năng suất thấp. -8- [2] Hiệu ứng động (dynamic effect): được xem là giai đoạn thứ hai của quá trình chuyển dịch. Một khi số lượng lao động thay đổi (ΔS≠0), sau một thời gian lượng sản phẩm được tạo ra của ngành cũng sẽ thay đổi; hoặc nói cách khác, năng suất lao động đã thay đổi (ΔP≠0). Hiệu ứng trong giai đoạn này phức tạp hơn trong giai đoạn 1.
Hiệu ứng tích cực (>0) xảy ra trong 2 trường hợp: (i) khu vực đó vừa có năng suất tăng (ΔP>0) vừa có số lao động tăng (thu hút được nhiều lao động); (ii) khu vực có năng suất giảm (ΔP<0) và lao động trong khu vực đó giảm (lao động rời bỏ công việc trong khu vực này). Hiệu ứng tiêu cực cho các trường hợp còn lại: (i) có năng suất tăng (ΔP>0) và lao động giảm (ΔS<0); (ii) năng suất giảm (ΔP<0) và lao động tăng (ΔS>0). Hiệu ứng tích cực khi năng suất trong khu vực tăng (ΔP>0). Ngược lại, có tác động tiêu cực khi năng suất giảm (ΔP<0).
Tóm lại, mỗi sự thay đổi trong năng suất và lao động của mỗi khu vực đều có ý nghĩa và ảnh hưởng đến năng suất của tổng thể nền kinh tế. Sự thay đổi lao động có tác động tiêu cực khi lao động dịch chuyển từ khu vực có năng suất cao sang năng suất thấp. Sự thay đổi của năng suất, nếu ΔP>0, hầu hết đều có lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế có những ngành có năng suất cao, tác động ngay đến GDP trong hiện tại nhưng về lâu dài sẽ không tốt cho tăng trưởng hoặc tác động bất lợi đến sự phát triển đến các ngành khác.
Ngoài ra, việc sử dụng chỉ tiêu năng suất lao động có hạn chế là không phản ánh được đóng góp của các yếu tố khác như, vốn, ứng dụng khoa học kỹ thuật, hiệu quả quản lý… Như một bài toán để tối ưu lợi nhuận, cơ cấu ngành kinh tế gồm các ngành kinh tế, được ví như danh mục đầu tư được lựa chọn với tỷ trọng khác nhau. Tuy nhiên, bài toán này được giải quyết bởi rất nhiều người và nhà nước là một-nhưng- rất-quan-trọng trong số đó. Nhà nước tác động vào cơ cấu ngành bằng cách thông báo xu hướng cơ cấu ngành dự kiến, tập trung đầu tư và có các chính sách ưu đãi đầu tư vào các ngành được ưu tiên để phát triển. -9- Cơ cấu ngành kinh tế cho biết trình độ phát triển của nền kinh tế, do đó, nó luôn dịch chuyển theo một xu hướng thể hiện trình độ phát triển của nền kinh tế.
Thông thường ở các nước phát triển, tỷ trọng của ngành dịch vụ rất lớn, ngược lại, tỷ trọng này ở các nước đang phát triển chiếm tỷ trọng khoảng GDP khoảng 20 – 30% 4. Cơ cấu ngành thường được chia thành 3 khu vực: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ (còn được gọi là khu vực I, khu vực II, khu vực III). Việc phân chia cơ cấu ngành kinh tế chỉ có ý nghĩa tương đối, mục đích để phân loại ngành có năng suất thấp và năng suất cao. Năng suất lao động của khu vực nông nghiệp là thấp nhất, do tính chất công việc của những ngành trong khu vực này khá đơn giản, tập trung nhiều lao động giản đơn.