Chương 1: Giới thiệu về đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây: Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2._Khái niệm liên quan 2. Tăng trưởng kinh tế Theo Simon Kurnetz, tăng trưởng là sự gia tăng bền vững về sản lượng bìnhquân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân. Theo Douglas North và Robert Paul Thomas, tăng trưởng xảy ra khi sản lượng gia tăng nhanh hơn gia tăng dân số.
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế dưới dạng khái quát là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP), là quá trình làm gia tăng sản lượng thực bình quân đầu người (tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số hay còn gọi là POP đầu người) trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó, sản lượng bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ, giúp gia tăng phúc lợi xã hội của con người. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế Để đo lường và đánh giá tăng trưởng kinh tế, ta dựa vào các chỉ tiêu: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tổng sản phẩm quốc nội là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ được tạo ra trong năm trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, thường được tiếp cận theo các cách khác nhau: - Về phương diện sản xuất, GDP được xác định bằng toàn bộ giá trị gia tăng của các ngành, các khu vực sản xuất và dịch vụ trong cả nước. - Về phương diện tiêu dùng, được biểu hiện ở toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành của thị trường được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ hàng năm - Về phương diện tiêu dùng, tổng sản phẩm trong nước là toàn bộ giá trị mà hộ gia đình, doanh nghiệp và tổ chức nhà nước thu được do giá trị gia tăng đem lại 6 Tổng sản phẩm trong nước chủ yếu phản ánh khả năng sản xuất của một nền kinh tế. Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Tổng sản phẩm quốc dân là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ta bởi công dân trong một nước trong năm, không phân biệt sản xuất được thực hiện trong hay ngoài nước.
Là thước đo sản lượng gia tăng mà người dân của một nước thực sự thu nhập được. GNP = GDP + Thu nhập ròng từ nước ngoài Thu nhập bình quân đầu người Thu nhập bình quân đầu người là thương số giữa toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối cùng mà tất cả công dân một nước tạo ra trong năm với tổng số dân. Thu nhập bình quân đầu người tỷ lệ thuận với quy mô sản lượng và tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghịch với dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế tự nhiên hằng năm. Vì vậy, mặc dù thu nhập bình quân đầu người phản ánh sự tăng trưởng và phát triển, nó vẫn chưa nói lên bản chất mà tăng trưởng kinh tế mang lại.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 𝑌𝑡 − 𝑌𝑡−1 𝑦= 𝑌𝑡−1 Trong đó: y: Tốc độ tăng trưởng của Y Y: GDP thực hoặc GNP thực hoặc GDP thực bình quân đầu người Các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Từ lý thuyết và thực nghiệm của các trường phái kinh tế khác nhau về tăng trưởng kinh tế, nhận thấy ở các nền kinh tế khác nhau, các yếu tố chính quyết định đến tăng trưởng kinh tế đều bao gồm vốn, lao động, công nghệ. Bên cạnh đó, yếu tố tài nguyên, thể chế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế. Thể chế 7 Schneider (1999) định nghĩa chất lượng thể chế công như là việc thi hành thẩm quyền hoặc kiểm soát để quản lý hoạt động và tài nguyên của một quốc gia. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2002) theo khía cạnh khác đã định nghĩa thể chế công là một hệ thống phức tạp của sự tương tác giữa các cấu trúc, truyền thống, chức năng và quy trình đặc trưng bởi giá trị của trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự tham gia.
UNDP (2002) định nghĩa thể chế công là phấn đấu vì quy định của pháp luật, tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược trong việc thực thi quyền lực chính trị, kinh tế và hành chính. Trong khi các tài liệu không cung cấp bất kỳ định nghĩa chính xác duy nhất nào về thuật ngữ thể chế công, nhưng dường như có một sự thống nhất về các khía cạnh của nó. “Thể chế công liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục vụ” Jreisat (2002). Các khía cạnh này bao gồm các tổ chức của hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị, phân bổ các nguồn lực công cho các thành viên của xã hội, việc thu hồi và thực thi quyền lực chính trị, tất cả đều quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của một xã hội bất kỳ.
Như đã thảo luận bởi Keefer (2004), thuật ngữ thể chế công “rất đàn hồi và đa chiều”. Tuy nhiên, Keefer (2004) cũng chỉ ra rằng hầu hết các định nghĩa đều liên quan đến “mức độ mà các chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt lõi nhất định, chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân”. Vì bản chất đa chiều của thể chế công, một số định nghĩa đã xuất hiện trong các tài liệu. Ngân hàng Thế giới định nghĩa thể chế công là “thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của một quốc gia”.
Ngân hàng Phát triển châu Phi (1999) mở rộng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới để thích ứng với nền kinh tế 8 toàn cầu thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa. ADB định nghĩa thể chế công là “một quá trình đề cập đến cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý vấn đề công của một quốc gia và mối quan hệ với các quốc gia khác”. Điều quan trọng cần lưu ý là các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và ADB dường như chú trọng nhiều hơn về hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ cho các thành viên trong xã hội của họ. Tuy nhiên, như được thảo luận bởi Keefer (2004), khái niệm rộng hơn về thể chế công nên bao gồm các cơ chế khuyến khích chi phối các hành động của các tác nhân chính trị.
Đây là vấn đề của hệ thống chính trị và kinh tế. Những nghiên cứu trước đây về phát triển kinh tế ngầm giả định rằng các chính trị gia sẽ đưa ra quyết định tối đa hóa phúc lợi xã hội. Dethier (1999) đã đưa ra quan điểm rằng “chính phủ không phải là nhà độc tài nhân từ mà là những người tìm kiếm cách để tối đa hóa phúc lợi xã hội, nhưng cấu trúc thể chế phức tạp đặc trưng bởi các mối quan hệ đại diện”.Sử dụng hiệu quả các nguồn lực công không chỉ phụ thuộc vào thể chế (hạn hẹp như là cấu trúc tổ chức), mà còn phụ thuộc vào các chương trình ưu đãi trong các tổ chức công Dethier (1999). Một định nghĩa rộng hơn về thể chế được cung cấp bởi North (1990) là “những quy tắc của những trò chơi trong xã hội hoặc chính thức hơn là “những trở ngại mà con người đặt ra để hình thành sự giao tiếp giữa con người với nhau trong xã hội”.
Định nghĩa rộng hơn này quy định cơ chế khuyến khích trong cơ chế ra quyết định. Một định nghĩa khác ám chỉ tới cái nhìn toàn diện hơn về thể chế này được cung cấp bởi Kaufman và Kraay (2002). Kaufmann và Kraay (2002) định nghĩa thể chế công là “truyền thống và các tổ chức mà chính quyền được thực thi trong một quốc gia”. Theo các tác giả, điều này gồm quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn, kiểm soát và thay thế; khả năng của chính phủ để thiết lập và thực thi chính sách; sự tôn trọng của người dân và 9 nhà nước đối với các tổ chức để quyết định các tương tác giữa kinh tế và xã hội.
Đặc biệt, quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn và giám sát tác động rất lớn đến cơ chế khuyến khích trong các tổ chức chính phủ. Thể chế được hiểu là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương tác giữa người với người. Các thể chế chính trị – xã hội được thừa nhận có tác động đến quá trình phát triển đất nước, đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường đầu tư. Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
Một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh chóng. Thể chế tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng, tức là tạo ra những điều kiện thuận lợi để hướng các hoạt động theo hướng có lợi và hạn chế các mặt bất lợi. Chỉ số PAPI Chỉ số PAPI là công cụ phản ánh tiếng nói người dân về mức độ hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền các cấp. Chỉ số PAPI bao gồm 6 chỉ số lĩnh vực nội dung, 22 chỉ số nội dung thành phần và hơn 90 chỉ tiêu thành phần về hiệu quả quản trị và hành chính công của toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước.
Quy mô dân số Dân số là một nguồn lực lượng sản xuất chính, là yếu tố khác tạo đầu ra cho nền kinh tế, vì lao động cần thiết để làm việc với nguồn vốn đã có sẵn và không thể thiếu được trong các hoạt đông kinh tế và lao động còn là một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển. Mọi quốc gia điều nhấn mạnh đến mục tiêu “phát triển vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”. Vì vậy, dân số có vai trò là động lực của sự phát triển, là động lực quan trọng trong 10 tăng trưởng kinh tế. Vốn và lao động sẽ làm việc với nhau để tạo ra một mức POP bình quân đầu người, được gọi là trạng thái ổn định.