Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Phân tích tác động của tổ chức liên kết khu vực ASEAN đối với ngành xuất khẩu của Việt Nam Chương 3: Mô hình đánh giá tác động của việc gia nhập ASEAN đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1995-2021 Chương 4: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN 2 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề lý luận về khu vực hóa và ngành xuất khẩu việt nam 1.1 Tổng quan khu vực hóa 1.1 Khái niệm Khu vực hoá là sự liên kết hợp tác kinh tế của các quốc gia trong các khu vực trên thế giới trên cơ sở tương đồng về địa lí, văn hóa, xã hội, hoặc có chung mục tiêu, lợi ích phát triển. Có thể hiểu khu vực hoá mở rộng mối quan hệ giữa các nước, tăng cường sự tác động bổ trợ qua lại lẫn nhau để cùng nhau tăng trưởng trên nguyên tắc tôn trọng những giá trị riêng biệt của mỗi quốc gia Khu vực hoá là quá trình bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội và các vấn đề văn hoá. Đặc biệt là trong vấn đề kinh tế, khu vực hoá bắt nguồn từ nét tương đồng, cùng chung nguồn lực, sự cận kề lẫn nhau hay những lợi ích chung trên trường quốc tế.2 Nguyên nhân Khu vực hoá là xu hướng tất yếu, bắt nguồn từ nét tương đồng, cùng chung nguồn lực, sự cận kề lẫn nhau hay những lợi ích chung trên trường quốc tế. Điều này có thể được lý giải qua các nguyên nhân sau: Một là, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đang là động lực thúc đẩy quá trình khu vực hóa kinh tế.
Chẳng hạn như sự ra đời của cộng đồng kinh tế châu Âu, liên minh châu Phi, liên minh kinh tế Á-Âu đã đẩy mạnh sự hợp tác, phát triển nền kinh tế và văn hoá xã hội của các nước thành viên; hay sự ký kết Hiệp ước tự do thương mại Bắc Mỹ đã giúp cho Mỹ và các nước láng giềng có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới về kinh tế với các khối như EU, EVFTA,. Điều này là bàn đạp mạnh mẽ khiến các nước có mong muốn kết nối, hợp tác thành một khối để gia tăng năng lực cạnh tranh, khả năng thích ứng. Hai là, sự phát triển không đều của các nền kinh tế trên thế giới cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy khu vực hóa kinh tế. Các nước phát triển và đang phát triển đều cùng có lợi từ việc hợp tác kinh tế.
Thông thường, các nước đang phát triển vừa là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu nhân công giá rẻ và thị trường tiêu thụ cho các nước phát 3 triển, đồng thời các nước đang phát triển tận dụng được tiềm lực, lợi thế, thị trường của các nước phát triển. Nhất là từ những năm 80 cho đến nay, tình hình thế giới có những biến động điều chỉnh và cải tổ. Để phòng ngừa sự mất lợi thế cạnh tranh, vai trò bị suy giảm, những nước vốn mạnh nhất về kinh tế điều muốn lấy khu vực hoá kinh tế làm chỗ dựa để giữ vững và tăng cường sức mạnh của mình Ba là, dưới tác động của cách mạng công nghiệp hoá hiện đại hoá, cách mạng khoa học công nghệ 4.0, đòi hỏi sự giao lưu hợp tác sâu rộng giữa các nước, tăng cường trao đổi thành tựu công nghệ nâng cao năng suất, đời sống của người dân mỗi nước. Khi xã hội hóa sản xuất vượt ra ngoài biên giới quốc gia và phát triển tới trình độ nhất định, tất yếu sẽ đặt ra nhu cầu gỡ bỏ các rào cản trên thị trường và thực hiện liên kết kinh tế giữa các quốc gia với nhau.3 Hệ quả Xu hướng khu vực hoá kinh tế vừa hợp tác vừa cạnh tranh lẫn nhau tạo động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi nước, bổ sung các nguồn lực, tận dụng tài nguyên, công nghệ, tăng cường trao đổi mua bán hàng hoá, tự do hoá thương mại, thu hút vốn đầu tư, góp phần bảo vệ lợi ích kinh tế của các nước thành viên.
Bên cạnh đó, khu vực hoá kinh tế góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ. Điều này mở ra cơ hội cho các thị trường mới, giao lưu, học tập và tiếp thu những thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến, có thêm thị trường, được sự hỗ trợ của các tổ chức, liên minh đã tham gia. Tuy nhiên, song song với những thuận lợi thì xu hướng khu vực hoá cũng đặt ra không ít vấn đề, thử thách đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm giải quyết, như sự tự chủ về kinh tế, quyền lực quốc gia, sự duy trì văn hoá, nét đẹp truyền thống. Khi các quốc gia thành viên trở nên phụ thuộc hay đặt toàn tiềm lực hợp tác với một quốc gia đối tác, sự tự chủ tự cường của quốc gia thành viên đó sẽ bị xâm phạm.
Ngoài ra, sự giao lưu các nền văn hoá, du nhập văn hoá quốc gia thành viên có nguy cơ gây ra ảnh hưởng đến giá trị cốt lõi quốc gia.2 Tổng quan tổ chức liên kết khu vực ASEAN 1.1 Lịch sử ra đời Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 08/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan với sự tham gia của 5 quốc gia thành viên ban đầu là Indonesia, Malaysia, Phi-líp-pin, Singapore và Thái Lan. Năm 1984, ASEAN kết nạp thêm Brunei Đa-rút-xa-lam. Ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội. Ngày 23/7/1999 ASEAN kết nạp Laos và Mi-an-ma.
Ngày 30/4/1999, Campuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, hoàn thành giấc mơ về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á.2 Mục tiêu Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN, như được chính thức hóa trong văn kiện Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 là đưa ASEAN trở thành một Cộng đồng được thiết lập với ba trụ cột chính là hợp tác Chính trị-an ninh, hợp tác kinh tế và hợp tác văn hóa, xã hội đan xen, hỗ trợ chặt chẽ cho nhau vì mục đích đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực. Một tổ chức hợp tác khu vực mở có mức độ liên kết sâu rộng hơn và có vai trò trung tâm quan trọng hơn trong khu vực, với năng lực được nâng cao để ứng phó hiệu quả với các thách thức. Một Cộng đồng vận hành theo luật lệ, có sự tham gia rộng rãi hơn của người dân và mang lại những lợi ích thiết thực hơn cho người dân.3 Thành tựu quan trọng Về thương mại hàng hóa, theo cam kết của Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan đối với các nước ASEAN-6 (5 nước sáng lập và Brunei), 99,2% số dòng thuế đã được xóa bỏ, trong khi 90,9% số dòng thuế của các nước gia nhập sau là Campuchia, Lào, Myanmar và Viê †t Nam đã được xóa bỏ tính tới năm 2017. Về thương mại dịch vụ, tự do hóa thương mại dịch vụ là một trong những ưu tiên quan trọng trong Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ giữa các nước ASEAN được thực hiện trong khuôn khổ của Hiệp định khung ASEAN 5 về dịch vụ (AFAS), ký kết vào năm 1995 và tiếp tục được đàm phán nhằm tự do hóa dần dần thương mại dịch vụ giữa các nước ASEAN Về đầu tư, trước bối cảnh các khu vực cũng như các nước ASEAN ngày càng phải chịu sức cạnh tranh mạnh mẽ về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước đang phát triển khác trên thế giới cũng như trong khu vực, ngày 15/12/1995 tại Thái Lan, Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 5 của ASEAN đã quyết định thành lập Khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area - gọi tắt là AIA), nhằm tăng cường thu hút vốn và khả năng cạnh tranh để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực ASEAN, nơi có nguồn lao động trẻ, rẻ và dồi dào.4 Việt Nam gia nhập ASEAN Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trở thành một trong những thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm, ảnh hưởng lớn đến cấu trúc thống nhất của ASEAN cũng như duy trì hòa bình, thịnh vượng ở khu vực, xây dựng ASEAN trở thành một cộng đồng chung hoàn thiện, lấy người dân làm trung tâm. 27 năm qua, Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN và đóng góp tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên cũng như giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ASEAN. Việc hội nhập toàn diện, sâu rộng với ASEAN cũng là cách để Việt Nam đã và đang tham gia hội nhập toàn cầu ngày càng mạnh mẽ hơn.3 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam 1.1 Khái niệm xuất khẩu Theo lý thuyết về thương mại quốc tế cổ điển, khi phân công lao động xã hội đạt được mức độ nhất định, chuyên môn hóa sản xuất được thực hiện cho phép tạo ra năng suất cao hơn, hàng hóa ngày càng nhiều không chỉ đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà tất yếu sẽ dẫn tới sự trao đổi hàng hóa ra bên ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia. Như vậy, thực chất xuất khẩu chính là sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia.
Xuất khẩu có một số hình thức phổ biến: xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu uỷ thác, buôn 6 bán đối lưu (Counter – trade), xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư, xuất khẩu tại chỗ, gia công quốc tế, tạm nhập tái xuất.2 Sự phát triển của hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam Tiếp đà năm 2021, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2022 tiếp tục có những tín hiệu khởi sắc. Sơ bộ 4 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 242,43 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 4 tháng đạt 122,48 tỷ USD, tăng 16,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 32,9 tỷ USD, tăng 23,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 89,6 tỷ USD, tăng 14,1%. Cán cân thương mại hàng hóa 4 tháng đầu năm sơ bộ xuất siêu 2,53 tỷ USD.