Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất. Thực trạng quản lý hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng khu vực II. Một số một số biện pháp nhằm hoàn thiện quản lý đối với hàng hóa kinh doanh hàng hóa tạm nhập, tái xuất tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng khu vực II.
LÝ LUẬN CHUNG VÈ QUẢN LÝ HÀNG HÓA KINH DOANH TẠM NHẬP TÁI XUẤT 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Theo sự tìm hiểu của tác giả, trong những năm gần đây có khá nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa như: - Nghiên cứu “Hệ thống tạm quản hàng hóa-công cụ tạo thuận lợi thương mại” của tác giả Minh Minh, tạp chí nghiên cứu Hải quan số 10, năm 2006. Trong bài viết, tác giả Minh Minh đã nêu những nội dung chính của hệ thống tạm quản hàng hóa theo công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa - Công ước ATA, phân tích những lợi ích khi áp dụng hệ thống tạm quản trong quản lý hàng hóa tạm nhập, tái xuất của cơ quan hải quan. - Luận văn thạc sỹ năm 2012“Công ước ATA để triển khai áp dụng cho nghiệp vụ tạm nhập tái xuất tại Việt Nam”, tác giả Đỗ Mai Trang, năm 2012.
Đây là công trình nghiên cứu dưới góc độ của nhà làm luật. Thông qua việc nghiên cứu công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa (Công ước ATA), tác giả Đỗ Mai Trang đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập, tái xuất tại Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp hỗ trợ ngành hải quan trong quá trình thực thi nhiệm vụ được hiệu quả hơn, đồng thời góp phần hoàn thiện nội dung của pháp luật về quản lý hải quan. - Luận văn thạc sỹ năm 2013 “Công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa tại chi cục hải quan cửa khẩu Móng Cái - Quảng Ninh”, tác giả Nguyễn Mạnh Cường. 5 Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hải quan đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại chi cục hải quan cửa khẩu Móng Cái thuộc Cục hải quan tỉnh Quảng Ninh, tác giả Nguyễn Mạnh Cường đã chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất tại Chi cục đồng thời kiến nghị một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thực hiện tốt hơn công tác quản lý tại Chi cục hải quan cửa khẩu Móng Cái.
- Đề án giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với hàng kinh doanh tạm nhập- tái xuất, Tổng cục Hải quan, năm 2013. Trong đề án, Tổng cục Hải quan đã hệ thống hóa các văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý hải quan của hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất của Việt Nam. Thông qua việc đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất tại một số tỉnh, thành phố lớn, Tổng cục Hải quan đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo quản lý đúng quy định của Nhà nước, không để thẩm lậu hàng hóa tạm nhập vào thị trường trong nước, chống thất thu thuế, góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và an ninh kinh tế. Những công trình nghiên cứu kể trên đã hệ thống hoá về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan về quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa đồng thời đã nêu nhiều khía cạnh khác nhau cũng như thực tế công tác quản lý của nhiều địa phương khác nhau.
Tuy nhiên, mỗi địa phương có vị trí địa lý, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ phát triển khác nhau và vì thế chưa có giải pháp hiệu quả cho tất cả các địa phương. Do vậy, đề tài này sẽ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tiễn của công tác quản lý hải quan đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng khu vực II.2 Khái niệm và phân loại về hàng hóa tạm nhập,tái xuất Tạm nhập, tái xuất hàng hóa (Temporary Import and Re-export Cargo): Là một tập quán thương mại được sử dụng trong thương mại quốc tế, đây là một thức kinh doanh, dịch vụ XNK. Công ước quốc tế về tạm quản hàng hóa (Istanbul-1990) định nghĩ “tạm quản” là chế độ hải quan mà theo đó một số hàng hoá (bao gồm cả cácphương tiện vận tải) được nhập vào lãnh thổ của một quốc gia mà không phải đóng thuế nhập khẩu và các loại thuế khác và không bị áp dụng các hạn chế hay cấm nhập khẩu đốivới các loại hàng mang tính chất kinh tế kể cả các phương tiện vận tải được nhập với mục đích rõ ràng và sẽ tái xuất trong thời hạn xác định mà không bị làm thay đổi, cải biến trừ trường hợp giảm giá trị thông thường do quá trình sử dụng. Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto) sửa đổi, tại Phụ lục G giải thích: “tạm nhập” là thủ tục hải quan mà theo đó một số loại hàng hóa nhất định có thể đưa vào biên giới hải quan một cách có điều kiện và có thể được miễn toàn bộ thuế hoặc một phần nguyên liệu làm nên sản phẩm.
Hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa được coi là hoạt động kinh tế trong tổng thể nền kinh tế của Việt Nam từ năm 2005 khi Luật thương mại năm 2005 được ban hành. Điều 29 Luật Thương mại định nghĩa: “Tạm nhập tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”. Qua định nghĩa trên, có thể hiểu tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa nhưng không để tiêu thụ tại thị trường trong nước 7 mà là để xuất khẩu sang một nước khác nhằm mục đích thu lợi nhuận. Hàng hóa tạm nhập tái xuất không được gia công, chế biến tại nơi tái xuất.
Đặc điểm chung của hàng hóa tạm nhập tái xuất gồm: hàng hóa chưa qua gia công, chế biến; mục đích của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa tạm nhập tái xuất nhằm thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn vốn ban đầu; giao dịch có sự tham gia của ba bên; hàng hóa thường là những mặt hàng có cung cầu lớn và biến động thường xuyên; hàng hóa tạm nhập tái xuất thường được hưởng ưu đãi về thuế quan. Các hàng hóa tạm nhập tái xuất thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, thực phẩm đông lạnh, hàng có thuế tiêu thụ đặc biệt không được phép chuyển loại hình từ kinh daonh tạm nhập, tái xuất sang nhập khẩu để tiêu thụ nội địa. Hoạt động kinh doanh hàng tạm nhập tái xuất được phân biệt với chuyển khẩu hàng hóa như sau: Chuyển khẩu hàng hóa (Transit) là việc doanh nghiệp mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Các hình thức chuyển khẩu hàng hóa: Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu qua cửa khẩu Việt Nam đến nước nhập khẩu nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; hàng hóa được đưa thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam; hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu của Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hóa nhưng không làm thủ tục nhập khẩu hay xuất khẩu tại Việt Nam.
8 Các loại hình hàng hóa tạm nhập, tái xuất trong xuất khẩu, nhập khẩu Theo mục đích thương mại, tạm nhập tái xuất hàng hóa gồm hai loại là: Tạm nhập, tái xuất các loại hàng hóa thông thường và các hình thức tạm nhập tái xuất khác: - Tạm nhập tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng nhập khẩu và hợp đồng xuất khẩu do doanh nghiệp Việt Nam ký với đối tác nước ngoài. - Các hình thức tạm nhập, tái xuất khác: tạm nhập, tái xuất máy móc, thiết bị, phương tiện thi công, khuôn, mẫu theo các hợp đồng thuê, mượn của thương nhân Việt Nam ký với bên nước ngoài để sản xuất, thi công, thực hiện dự án đầu tư; tạm nhập, tái xuất linh kiện, phụ tùng để phục vụ thay thế, sửa chữa tầu bay, tầu biển nước ngoài nhưng không có hợp đồng; tạm nhập, tái xuất hàng hóa tham dự hội chợ, triển lãm; tạm nhập tái xuất phương tiện chứa hàng hóa theo hình thức quay vòng; tạm nhập tái xuất hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế; tạm nhập, tái xuất máy móc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp có thời hạn.3 Đặc điểm và loại hình kinh doanh hàng hóa tạm nhập, tái xuất 1.1 Đặc điểm của hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất Kinh doanh tạm nhập, tái xuất khác với các hình thức kinh doanh xuất nhập khẩu khác ở điểm được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt là hợp đồng nhập khẩu và hợp đồng xuất khẩu do doanh nghiệp Việt Nam ký với đối tác nước ngoài. Hợp đồng xuất có thể ký trước hoặc ký sau hợp đồng nhập. Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất có các đặc điểm sau: - Thời gian hàng hóa tạm nhập, tái xuất được lưu lại tại Việt Nam không quá 60 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục tạm nhập.
Nếu cần kéo dài 9 thời hạn, doanh nghiệp có văn bản đề nghị được gia hạn gửi Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tạm nhập; mỗi lần gia hạn không quá 30 ngày và một lô hàng tạm nhập tái xuất không gia hạn không quá 2 lần. Quá thời hạn nêu trên, doanh nghiệp bị phạt vi phạm hành chính đồng thời áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tái xuất hàng hóa ra khỏi Việt Nam hoặc tiêu hủy. - Hàng hóa tạm nhập, tái xuất chịu sự giám sát của Hải quan từ khi nhập khẩu cho tới khi thực xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.