Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luậnliên quan 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã được hơn ba năm ké từ khi cộng đồng kinh tế AEC được thành lập, những tác động của AEC tới các quốc gia trong ASEAN chưa thực sự rõ ràng nhưng cũng là một trong nhân tố quan trọng làm tiền đề cho sự phát triển của khu vực trong thời gian tới đây, khi mà chủ nghĩa tự do hóa thương mại càng ngày càng trở nên thiết yếu trong quan hệ quốc tế. Đã có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào phân tích thước mại nội khối ASEAN trước khi thành lập AEC, các đề tài này tập trung phân tích sâu vào tình hình thương mại nội khôi ASEAN và dự báo tác động một cách định tính về thương mại nội khối sau khi thành lập AEC.
Cũng chưa nhiều công trình nghiên cứu đánh giá tác động của AEC tới thương mại nội khối ASEAN do nhiều yếu tố: một là, thời gian AEC được hình thành cho đến nay chưa quá dài, do đó tác động của AEC sẽ chỉ là ngắn hạn tới các quốc gia nội khối và bị chi phối bởi nhiều các yếu tố khác. Hai là, trên thực tế đâu mốc 2015 là thời gian hình thành AEC nhưng quá trình đàm phán, các cam kết thực hiện đỡ bỏ hàng rào thuế qua đã được thực hiện từ trước đó bởi nhóm ASEAN6, do đó, để đánh giá công bằng thìphải thống nhất một tiêu chuẩn áp dụng cho từng nhóm quốc gia và nên kết hợp nghiên cứu định lượng dé phân tích tác động của AEC tới các quốc gia ASEAN một các rõ rệt hơn. Bài nghiên cứu đã kết hợp những cơ sở lý luận cơ bản từ lợi thế so sánh của David Ricardo cùng với các chỉ số thương mại nhằm chi ra những nhóm ngành cơ bản mà mỗi quốc gia ASEAN đang nắm giữ thế mạnh, đồng thời sử dụng thêm mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế để đánh giá một cách định lượng tác động của AEC với các quốc gia ASEAN.Bài nghiên cứu đã phân chia nguồn tài liệu tham khảo thành 2 nhóm như sau: 1. Nhóm các bài nghiên cứu làm rõ về lý thuyết lợi thế so sánh Trong nhóm này, có rất nhiều công trình nghiên cứu điển hình phân tích sau bản chất của lợi thế so sánh và các ứng dụng của lợi thế so sánh trong việc phân tích thương mại song phương và đa phương Trong bài nghiên cứu“Lý thuyết lợi thế so sánh và gợi ý đối với Việt Nam trong bối cảnh phát triển hiện nay” đượcbáo cáo tại Hội thảo khoa học quốc giaCác lý thuyết kinh tế chính trong bối cảnh phát triển mới của Thể giới và những van dé rút ra cho Việt Namnăm 2010 của tác giả TS.
Nguyễn Xuân Thiên đã trình bày rất chi tiết các giả thiết cần có để xây dựng lý thuyết lợi thé so sánh (Nguyễn Xuân Thiên, 2010). Từ đó thấy được quy luật trao đôi thương mại giữa hai quốc gia với nhau dựa trên việc chuyên môn hóa các sản pham mà mỗi quốc có lợi thế so sánh va tong lợi ích khi hai quốc gia khi trao đổi với nhau là một số luôn đương. Bên cạnh đó bài nghiên cứu cũng trình bày thêm sự phát triển của lý thuyết lợi thế so sánh sau này hay còn gọi là trường phái Ricado với cùng một cách tiếp cận nhưng được mở rộng hơn các giả thuyết dé phù hợp với thực tế hơn. Cu thé hơn, bài nghiên cứu đã ứng dụng lợi thế so trong trong trường hợp có nhiều mặt hàng và ứng dụng lợi thế so sánh trong trường hợp có nhiều hơn hai quốc gia.
Đặc biệt bài nghiên cứu có đề cập đến chỉ số RCA dé do lường lợi thé so sánh trong mỗi quốc gia theo phương pháp định tính. Cuối cùng bài nghiên cứu đã đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam dựa trên phân tích những lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh mà Việt Nam đang có.Đây là bài nghiên cứu cơ sở để tác giả làm cốt lõi phân tích thương mại nội khối ASEAN, và phân tích tác động AEC tới thương mại nội khối này. Đối với bài nghiên cứuBa quan điểm chính đo lường lợi thé so sánh trong sản xuất, xuất khẩu hàng hóa quốc gia của tác giả Võ Minh Sang và Đỗ Văn Xê năm 2015 đăng trên tạp chí khoa học trường đại học Cần Thơ đã chỉ ra rằngmỗi một quốc gia đều có lợi thé so sánh mà khi quốc gia đó có khả năng sản xuất với chi phí cơ hội thấp hơn so với các quốc gia khác (Võ Minh Sang và Đỗ Văn Xê, 2016). Bài nghiên cứu đã đề cập đến chi phí cơ hội như là việc phải từ bỏ nguồn lực sản xuất một loại hàng hóa này dé tập trung dành nguồn lực dé sản xuất hàng hóa ban khác.
Nguồn lực ở đây được hiểu có thê là vốn, đất đai, tài nguyên hoặc công nghệ, ví dụ như việc từ bỏ đất đai nông nghiệp sản xuất gạo dé đổi lay nguồn lực đất đai chuyên sang xây dựng nhà máy chế biến công nghiệp. Bằng cach sử dụng các chỉ số thương mại dé tiếp cận mục đích nghiên cứu, chỉ số được dùng trong bài nghiên cứu là chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu được tính toán thông qua kết quả của việc sử dụng tỷ trọng thị phần xuất khẩu của một loại hàng hóa trong tổng thương mại xuất khâu của một quôc gia với tỷ trọng thị phần xuất khâu của chính hàng hóa trên tổng thương mại xuất khẩu của thế giới. Một quan điểm nữa được đề cập trong bài nghiên cứu này là sử nguồn lực trong nước dé thu về giá trị thặng dư ngoại tệ cho quốc gia, đây là một quan điểm mới được đề cập trong bài nghiên cứu về lý thuyết lợi thế so sánh. Kết luận của bài nghiên cứu này chỉ ra ba cachtiép cận của lợi thé so sánh: một là, lợi thé so sánh dựa trên lợi thé về chỉ phí sản xuất, dây là góc nhìn ban đầu và cơ bản nhất của lý thuyết này; hai là, lợi thế so sánh dựa trên kết quả tiêu thụ ở thị trường quốc tế, và cuối cùng làlợi thế so sánh dựa trên lợi thế nguồn lực nội nguồn.
Dù ba quan điểm này đều có cách tiếp cận khách nhau, sử dụng những tính toán khác nhau nhưng điểm chung đều là xác định lợi thế so sánh cho từng sản phẩm, từ đó chỉ ra điểm mạnh cần được chuyên môn hóa trong sản xuất của mỗi quốc gia, qua đó xác định được các mặt hàng chủ lực trong xuất khâu, tập trung vào giao thương, đàm phán chính sách thương mại. Lý thuyết lợi thế so sánh đặc biệt có ý nghĩa đối với các lý thuyết thương mại về sau và ý nghĩa với thực tế phát triển hội nhập của thế giới ngày nay, đó là việc xác định năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trên thị trước quốc tế. Bài nghiên cứu ngoài việc đề cập hệ số RCA mà còn đề cập đến chỉ số DRC - Hệ số chí phí nội nguồn, đây là một chỉ số quan trọng trong các tiếp cận nguồn lực nội nguồn với lợi thế so sánh, hệ số chi phí nội nguồn phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra một hàng hóa nao đó. Một trong những bài nghiên cứu nước ngoài được luận văn tham khảo nhiều là bài Lợi thế so sánh và tăng trưởng dài hạn của Gene M.
Grossman và đồng nghiệp Elhanan Helpman được đăng trên tạp chí kinh tế Mỹ năm 1990 đã xây dựng một mô hình với trao đổi thương mại và tăng trưởng giữa hai quốc gia, với giả thiết tiến bộ công nghệ là mục đích của hành vi tối đa hóa lợi nhuận yếu tô kinh tế tư nhân (M. Bài viết nghiên cứu vai về trò của môi trường thương mại, các chính sách thương mại đóng vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng dài hạn. Kết quả cho thấy rằng sự khác biệt giữa các quốc gia về hiệu quả trong hoạt động R & D có ảnh hưởng quan trọng đến tác động tăng trưởng, cơ cấu kinh tế và chính sách thương mại của mỗi quốc gia. Từ kết quả này bài nghiên cứu này, luận văn có thêm những cơ sở để áp dụng phân tích lợi thế so sánh ảnh hưởng đến thương mại nội khối ASEAN, qua đó dán tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng dai hạn trong khu vực.
Một bài viết khác trong nhóm nghiên cứu này là công trình Động luc của lợi thế so sánh trong khu vực ASEANcua tac giả Rini Setyastuti trường dai học Dai học Gadjah năm 2018 đã tiếp cận dùng phương pháp lợi thế so sánh để chỉ ra các nhóm ngành hay còn gọi là các động lực mà ASEAN đang có lợi thế so sánh, tuy nhiên bài nghiên cứu này áp dụng tổng quát cho toàn bộ các quốc gia ASEAN, tức là bài nghiên cứu này gộp ASEAN thành một khu vực thống nhất, các luồng thương mại cũng được gộp chung lại để chỉ ra khu vực này có lợi thế tại nhóm ngành nào (Rini Setyastuti, 2018).Trong bài nghiên cứu cho cũng dé cập đến chỉ số RSCA - hệ số hiện thị lợi thé so sánh cân đối nhằm bồ sung cho kết quả hệ số RCA, do RCA luôn nhận một kết quả luôn dương nên không có tính cân đối và bị đi yếu tô thông kê. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy, Sản phẩm đặc trưng của ASEAN tại năm 1990 chủ yếu ở các sản phẩm nhóm STTC 0 bao gồm: thực phẩm và động vật sông, còn đến năm 2015, các sản pham nhóm SITC 7 bao gồm: máy móc va vận chuyên chiếm ưu thế hơn trong các sản phẩm xuất khâu của ASEAN. Trong giai đoạn 1990-2015, cho thấy cường độ trung bình của RSCA ở các quốc gia ASEAN đã giảm, tuy nhiên điều đó không có nghĩa là lợi thế so sánh của các sản phẩm của mỗi quốc gia trong ASEAN giảm, mà có thể bởi vì sự đa dạng hóa sản phẩm ở mỗi quốc gia đang tăng lên. Sự suy giảm giá tri trung bình theo sau sự gia tăng giá trị độ lệch chuẩn cho thấy sự xuất hiện của chuyên môn hóa sản phẩm có lợi thế so sánh cao và sự suy giảm các sản phẩm có lợi thế so sánh thấp, ngoài ra còn có khả năng xuất hiện các sản pham mới.
Với việc sử dụng mức ý nghĩa 5%, có vẻ như các quốc gia trong ASEAN nói chung đang trai qua những thay đổi đáng kể về loi thế so sánh. Tuy 10 nhiên, tất cả các quốc gia trung bình có tỷ lệ thay đổi tương đối thấp trong mô hình lợi thé so sánh.