Chương 1: Giới thiệu Trong chương này, tác giả giới thiệu lý do thực hiện đề tài nghiên cứu, mục tiêu cũng như là câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi thu thập dữ liệu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn khi thực hiện bài nghiên cứu. - Chương 2: Tổng quan lý thuyết - nghiên cứu thực nghiệm Trong chương này, tác giả tổng hợp và trình bày các lý thuyết khoa học, những nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế ở các nước, khu vực khác nhau. - Chương 3: Mô hình – Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày phương pháp, quy trình nghiên cứu, giải thích các biến trong mô hình cũng như nguồn dữ liệu để thu thập và mô tả các đặc điểm của mô hình nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này tác giả kết quả hồi quy, kết quả các kiểm định của mô hình nghiên cứu.
- Chương 5: Kết luận – Hàm ý chính sách Chương này tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, đưa ra kết luận từ kết quả mô hình thực nghiêm, rút ra hàm ý chính sách và nêu lên những hạn chế của đề tài cũng như hướng mở rộng nghiên cứu trong tương lai. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1 Khái niệm Trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về FDI, trong đó có thể kể đến một số khái niệm được sử dụng phổ biến như sau: Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế các vùng của Việt Nam, Nguyễn Minh Tiến, 2014) đã đưa ra vào năm 1977: đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường’’. Theo quan điểm của Hoa Kỳ (Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế các vùng của Việt Nam, Nguyễn Minh Tiến, 2014) cho rằng : “đầu tư trực tiếp nước ngoài là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài’’.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ban hành năm 1987: đầu tư trực tiếp nước ngoài là bất kỳ tổ chức, cá nhân nước ngoài nào không phân biệt nguồn vốn hay bất kỳ tài sản nào miễn là được Chính Phủ Việt Nam cho phép để ký kết hợp tác kinh doanh theo đúng quy định của Luật Đầu tư nước ngoài. Sau đó, khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài được hoàn thiện, bổ sung vào năm 2000 “đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn (bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào) vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”. Từ những quan điểm, khái niệm trên, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể khái quát như sau: là việc nhà đầu tư từ nước ngoài đưa vốn (tiền, bất kỳ tài sản nào) vào một quốc gia để được sở hữu, kiểm soát, quản lý đối với một đối tượng kinh tế nhất định tại quốc gia đó nhằm thực hiện mục tiêu đối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư. Đặc điểm của FDI 6 - Mục đích hàng đầu của FDI là tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư.
- Tùy theo quy định từng quốc gia, nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát, tham gia kiểm soát doanh nghiệp đã đầu tư sau khi góp đủ số vốn tối thiểu theo pháp định hay vốn điều lệ. - Quyền và nghĩa vụ, lợi nhuận và rủi ro của mỗi bên sẽ được quy định tùy theo tỷ lệ góp vốn giữa các bên. - Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. - Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi.
Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư và công nghệ sao cho quyết định có lợi nhất cho họ. - FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Vai trò và lợi ích Dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có vai trò: - FDI bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kém phát triển.
Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp khiến tiết kiệm thấp, đầu tư thấp nên kết quả là thu nhập thấp. Nhiều nước rơi vào tình trạng kinh tế trì trệ, nghèo đói. Do các nước này không lựa chọn, cũng như không tạo ra được điểm đột phá chính xác cho vòng luẩn quẩn. Trở ngại lớn nhất đối với họ là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới.
Vì vậy, FDI là một đột phá giải quyết vòng luẩn quẩn đó. Mặt khác, theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu 7 cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Đa số, ở các nước đang phát triển đều mắc phải hai lỗ hổng trên. Bởi vậy, FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ sung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.
- FDI mang lại lợi ích quan trọng về công nghệ, kỹ thuật, kỹ xảo trong chuyên môn, hay trình độ quản lý tiên tiến của các nước đi trước. Về lâu dài, FDI có thể đổi mới kỹ thuật tại các nước nhận đầu tư góp phần tăng năng suất sản xuất, thay đổi mẫu mã chất lượng sản phẩm,.thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới, nghề trọng tâm đòi hỏi trình độ kỹ thuật, công nghệ cao. Nói cách khác, FDI tác động đến quá trình công nghệ hoá - hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng ở các nước nhận đầu tư. - Lợi ích về công ăn việc làm: Thực tiễn tại một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như: may mặc, điện tử, chế biến.
Đây là tác động kép vừa tạo thêm công ăn việc, vừa tăng thêm thu nhập cho người lao động. Từ đó sẽ giúp tăng tích luỹ trong nước. - Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, thêm vào đó các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng thông qua những hợp đồng dài hạn. Với những vai trò trên đã khẳng định FDI là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của mỗi quốc gia, là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết vấn đề về vốn.
Các nhân tố ảnh hưởng FDI Thứ nhất, môi trường đầu tư thu hút FDI gồm: môi trường pháp lý minh bạch phù hợp với các chuẩn mực quốc tế; môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, lạm phát được kiểm soát; môi trường xã hội; môi trường tự nhiên. Trong đó, môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng mạnh hơn cả, khi môi trường kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, thiếu minh bạch sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, khiến nhà đầu tư dè dặt, cân nhắc trong việc bảo toàn vốn và thu nhập. 8 Thứ hai, chất lượng cơ sở hạ tầng đầy đủ và đồng bộ, bao gồm: hạ tầng cơ sở vật chất - kỹ thuật và hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội, liên quan đến các yếu tố đầu vào, đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là điều kiện nền tảng để nhà đầu tư khai thác lợi nhuận.
Thứ ba, độ mở của nền kinh tế nghĩa là mức độ giao thương, buôn bán càng mạnh, khuyến khích xuất khẩu và sự ổn định chính trị giúp các doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của các nước đang phát triển đối với FDI Những nghiên cứu trước đây đều chỉ ra rằng: các nước đang phát triển càng thu hút FDI khi mà nó có sự kết hợp hài hòa giữa ổn định chính trị và ổn định kinh tế - xã hội. Sự kết hợp này là tiền đề đảm bảo tăng trưởng nhanh, thúc đẩy thị trường trong nước, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tối đa nguồn lực tự nhiên cũng như nguồn lực con người, là điều kiện thúc đẩy, hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Theo “Hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái Trung Dung” (J.H Dunning 1988) đã đưa ra hai tiền đề: + Một là, không chỉ tiềm năng về nguồn lực của nền kinh tế mà việc kết hợp linh hoạt giữa các nguồn lực đều ảnh hưởng lớn đến tính hấp dẫn trong việc thu hút FDI.
+ Hai là, cơ sở hạ tầng kỹ thuật là nhân tố then chốt quyết định tính hấp dẫn đối với FDI. Nhà đầu tư dựa trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đưa ra quyết định đầu tư, nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển sẽ thu hút FDI và ngược lại. Thực trạng FDI ở Việt Nam Việt Nam chưa tận dụng được lợi ích của FDI: có sự dao động về nguồn vốn FDI qua các năm, phần vốn FDI thực hiện còn quá khiêm tốn so với FDI đăng ký, hầu hết các dự án của FDI nhỏ, công nghệ thấp và chủ yếu đến từ các nước châu Á.