Vấn Đề Bất Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam Trên Báo Điện Tử

Bài viết phân tích vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam qua góc nhìn của luận văn thạc sĩ USSH trên báo điện tử, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Chuyên ngành

Báo Chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

140
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

0.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề bình đẳng giới

1.2. Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

1.3. Tiêu chí đánh giá, yếu tố tác động đến chất lượng thông tin, biểu hiện của bất bình đẳng giới trên báo chí, đặc biệt là báo điện tử

1.4. Vai trò của báo chí, đặc biệt là báo điện tử đối với việc truyền thông về bình đẳng giới

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

2.1. Vài nét về các báo trong diện khảo sát

2.2. Khảo sát thông tin về bất bình đẳng giới trên báo điện tử

2.3. Khảo sát tần suất, mức độ thông tin

2.4. Những vấn đề chính về bất bình đẳng giới trên báo điện tử

2.5. Hình thức truyền tải thông tin chủ yếu trên báo điện tử

2.6. Đánh giá thành công, hạn chế của các báo điện tử trong diện khảo sát

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

3.1. Những vấn đề đặt ra

3.2. Một số giải pháp

3.3. Một số kiến nghị

3.4. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bất Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam Trên Báo Điện Tử

Bất bình đẳng giới là một vấn đề xã hội phức tạp và nhức nhối ở Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ chính phủ và các tổ chức xã hội để thúc đẩy bình đẳng giới, nhưng thực trạng vẫn cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa nam và nữ trong nhiều lĩnh vực. Các báo điện tử đã đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh và nâng cao nhận thức về vấn đề này. Tuy nhiên, việc truyền tải thông tin về bình đẳng giới trên báo điện tử vẫn còn nhiều hạn chế.

1.1. Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Bất Bình Đẳng Giới

Bất bình đẳng giới được hiểu là sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong các lĩnh vực như giáo dục, việc làm, và quyền lợi xã hội. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của xã hội.

1.2. Vai Trò Của Báo Điện Tử Trong Việc Đưa Tin Về Bình Đẳng Giới

Báo điện tử có khả năng tiếp cận nhanh chóng và rộng rãi đến công chúng. Thông qua các bài viết, báo điện tử có thể nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, đồng thời phê phán các hành vi phân biệt giới tính trong xã hội.

II. Thực Trạng Bất Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam Hiện Nay

Thực trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng. Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo còn thấp, và cơ hội tiếp cận các nguồn lực kinh tế vẫn chưa công bằng. Các báo điện tử đã phản ánh một phần thực trạng này, nhưng vẫn còn thiếu sót trong việc đưa tin đầy đủ và chính xác.

2.1. Tình Hình Phụ Nữ Trong Các Vị Trí Lãnh Đạo

Phụ nữ vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong các vị trí lãnh đạo tại nhiều cơ quan, tổ chức. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của phụ nữ mà còn làm giảm hiệu quả quản lý và phát triển của xã hội.

2.2. Cơ Hội Tiếp Cận Nguồn Lực Kinh Tế

Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực kinh tế như vốn vay, việc làm có thu nhập cao. Điều này dẫn đến sự phân biệt trong cơ hội phát triển nghề nghiệp và tài chính.

III. Những Thách Thức Trong Việc Đưa Tin Về Bình Đẳng Giới

Mặc dù báo điện tử đã có những nỗ lực trong việc đưa tin về bình đẳng giới, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Sự thiếu nhạy cảm giới trong nội dung bài viết và cách thức truyền tải thông tin là một trong những vấn đề lớn. Điều này có thể dẫn đến việc vô tình củng cố các định kiến giới trong xã hội.

3.1. Thiếu Nhạy Cảm Giới Trong Nội Dung Bài Viết

Nhiều bài viết trên báo điện tử vẫn mang tính chất phân biệt giới, thể hiện qua ngôn ngữ và hình ảnh không phù hợp. Điều này không chỉ làm giảm giá trị thông tin mà còn ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về bình đẳng giới.

3.2. Định Kiến Giới Trong Cách Thức Truyền Tải

Cách thức truyền tải thông tin về bình đẳng giới trên báo điện tử đôi khi vẫn mang tính chất định kiến, dẫn đến việc không phản ánh đúng thực trạng và nhu cầu của phụ nữ trong xã hội.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thông Tin Về Bình Đẳng Giới

Để nâng cao chất lượng thông tin về bình đẳng giới trên báo điện tử, cần có những giải pháp cụ thể. Việc đào tạo phóng viên về nhạy cảm giới và xây dựng các tiêu chí đánh giá nội dung là rất cần thiết.

4.1. Đào Tạo Nhạy Cảm Giới Cho Phóng Viên

Đào tạo phóng viên về nhạy cảm giới sẽ giúp họ nhận thức rõ hơn về các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới, từ đó có thể đưa tin một cách chính xác và công bằng hơn.

4.2. Xây Dựng Tiêu Chí Đánh Giá Nội Dung

Xây dựng các tiêu chí đánh giá nội dung bài viết về bình đẳng giới sẽ giúp các cơ quan báo chí có thể kiểm soát và cải thiện chất lượng thông tin, từ đó nâng cao nhận thức của công chúng.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Các nghiên cứu về bất bình đẳng giới trên báo điện tử đã chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi là rất quan trọng. Các báo điện tử cần tích cực hơn trong việc đưa tin và phản ánh thực trạng này.

5.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Thông Tin Bình Đẳng Giới

Nghiên cứu cho thấy rằng thông tin về bình đẳng giới trên báo điện tử đã có những cải thiện nhất định, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa để đạt được sự công bằng thực sự.

5.2. Ứng Dụng Các Giải Pháp Vào Thực Tiễn

Việc áp dụng các giải pháp đã đề xuất sẽ giúp cải thiện chất lượng thông tin về bình đẳng giới, từ đó góp phần vào việc giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giới trong xã hội.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam

Bất bình đẳng giới vẫn là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Tuy nhiên, với sự nỗ lực từ các cơ quan báo chí và xã hội, hy vọng rằng tình trạng này sẽ được cải thiện trong tương lai. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan để đạt được mục tiêu bình đẳng giới.

6.1. Tương Lai Của Bình Đẳng Giới Tại Việt Nam

Tương lai của bình đẳng giới tại Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có sự thay đổi trong nhận thức của xã hội và sự nỗ lực từ các cơ quan truyền thông.

6.2. Vai Trò Của Các Cơ Quan Truyền Thông

Các cơ quan truyền thông cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, đồng thời phê phán các hành vi phân biệt giới tính trong xã hội.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề bất bình đẳng giới ở việt nam trên báo điện tử

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I, Luật Bình đẳng giới khái niệm:“ Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ” [24, Tr. Đây là khái niệm chung nhất được sử dụng trong luận văn này. - Phân biệt đối xử về giới Khái niệm chung nhất được sử dụng trong luận văn này là theo tài liệu sổ tay tuyên truyền về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình của Trung ương Hội LHPN Việt Nam: “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [27, Tr. Báo điện tử Từ khi ra đời đến nay, loại hình báo chí này có rất nhiều cách gọi khác nhau như: Báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo chí internet.

Luận văn này dùng tên gọi Báo điện tử để chỉ chung cho loại hình báo chí này. “ Báo điện tử là một loại hình thông tin đại chúng dựa trên việc khai thác thế mạnh của internet nhằm đem đến cho công chúng những thông tin mới nhất về mọi mặt của đời sống một cách nhanh nhất và toàn diện nhất” [15, Tr 234] So với báo in, phát thanh và truyền hình, báo điện tử là một kênh truyền thông vô cùng hiệu quả. Bản thân nó mang trong mình sức mạnh của các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống, nhưng do kết hợp với 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạng internet mà nó có nhiều đặc điểm ưu việt riêng. Nhờ những thế mạnh của mình mà Báo điện tử đã nhanh chóng làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin để trở thành một loại hình truyền thông được nhiều người lựa chọn.

Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về vấn đề bình đẳng giới Trong suốt những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn rất quan tâm tới vấn đề bình đẳng giới. Để xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, thúc đẩy được bình đẳng nam nữ, thực thi quyền phụ nữ trên phạm vi rộng lớn thì Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào tháng 7/1980 và được Nhà nước phê chuẩn Công ước vào tháng 11/1981. Đảng, nhà nước ta đã ra rất nhiều các văn bản chỉ đạo và đã chỉ đạo tổ chức nhiều hoạt động để thực hiện trách nhiệm của một quốc gia là thành viên CEDAW, đặc biệt là việc thiết lập sự bảo vệ bằng pháp luật các quyền của phụ nữ trên cơ sở không phân biệt đối xử và bình đẳng nam nữ. Trước hết, Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới được thể hiện ngay trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 02/9/1945, Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 05 bản Hiến pháp: năm 1945, 1959, 1980, 1992 - sửa đổi bổ sung năm 2001 và gần đây nhất là bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Các bản Hiến pháp trong đó điều quy định chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Ngoài ra, còn quán triệt và cụ thể hóa quan điểm “Nam, nữ bình quyền” bằng những quy định cụ thể. Sau các Hiến pháp năm 1945, 1959, trong Hiến pháp năm 1980 từ Điều 53 đến Điều 81 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có một số điều tạo ra những điểm nhấn quan trọng, khẳng định quyền bình đẳng giới của nam và nữ.

Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, từ Điều 49 đến Điều 82 quy định rõ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có một số khẳng định các quyền bình đẳng nam, nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến nay Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định sâu sắc hơn quyền bình đẳng của nam và nữ trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1992. Từ Điều 14 đến Điều 49, Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã quy định các quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng, trong đó có quyền của phụ nữ được quy định tại Điều 26. Có thể khẳng định rằng, qua các bản Hiến pháp, Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện rõ quan điểm về bình đẳng giới.

Có những quyền được pháp luật xây dựng bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong công việc, trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và trong đời sống gia. Năm 2000, tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc, Việt Nam là một trong số gần 200 quốc gia cam kết thực hiện 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, trong đó mục tiêu thứ 3 có nội dung “Thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao quyền năng của phụ nữ” [23, Tr.3] Để khẳng định Việt Nam sẽ quyết tâm thực hiện tốt bình đẳng giới, Đảng và nhà nước ta tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam nữ; xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ; thực hiện các cam kết, điều ước quốc tế về quyền con người và bình đẳng giới, nhằm phát huy mọi tiềm năng nguồn nhân lực nam, nữ. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Luật Bình đẳng giới. Luật bình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Ngày 12 tháng 12 năm 2006, Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 18/2006/L-CTN. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Luật này gồm 6 chương, 44 điều.4] Luật Bình đẳng giới ra đời là một trong những biện pháp khắc phục tình trạng phân biệt đối xử về giới và những khoảng cách giới trong thực tế. Luật bình đẳng giới đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nam và nữ.

Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới. Để nâng cao nhận thức của nhân dân về Luật bình đẳng giới và để triển khai thi hành Luật, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/05/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới. Trong Chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung làm tốt công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới và rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/06/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/05/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm Bình đẳng giới, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/06/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.

Bên cạnh đó, Luật phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2008 đã thật sự là đạo luật quan trọng cho việc thúc đẩy công tác bình đẳng giới ở nước ta. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia nằm trong số ít quốc 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia đã ban hành đồng thời được cả hai đạo luật này. Ngoài ra, Bộ Luật Lao động cũng là một trong những đạo luật đã có chương riêng quy định đối với lao động nữ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ. Tiếp tục thúc đẩy và hướng tới mục tiêu chung bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ đến năm 2010.

Chiến lược được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 19/2002/QĐ - TTg ngày 21/01/2002. Chiến lược có mục tiêu: Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Chiến lược này đòi hỏi các ngành, các cấp, các tổ chức phải nâng cao chất lượng, đẩy mạnh hoạt động, đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, vận động cán bộ, công chức, viên chức, hội viên đoàn thể và nhân dân cùng thực hiện vì mục tiêu bình đẳng giới.

Ngày 24/12/2010, tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020. Chiến lược đã thể hiện được quan điểm và mục tiêu của Chính phủ về bình đẳng giới. Quan điểm của chiến lược: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước. Công tác bình đẳng giới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.

Mục tiêu của Chiến lược: Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Ngày 22/7/2011, Chính phủ đã ra Quyết định số 1241/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015. Mục tiêu của Chương trình là tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay đổi hành vi, thực hiện bình đẳng giới; từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Bất Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam Trên Báo Điện Tử: Thực Trạng Và Giải Pháp cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình bất bình đẳng giới tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền thông điện tử. Tài liệu phân tích các vấn đề hiện tại, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện tình hình. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ thực trạng bất bình đẳng giới không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn thúc đẩy các hành động tích cực trong xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp tâm lý học thực trạng cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con ở một số gia đình huyện gò công tỉnh tiền giang. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà sự phân biệt đối xử theo giới tính diễn ra trong các gia đình, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề bất bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam.