Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vấn đề bình đẳng giới và bảo đảm quyền con người là mục tiêu phát triển xuyên suốt của cộng đồng quốc tế và Việt Nam. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc diễn ra từ ngày 06 đến ngày 08/09/2000 tại New York, bình đẳng giới đã được xác định là một trong tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Ở cấp độ quốc gia, quyền bình đẳng nam nữ được khẳng định từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiếp tục củng cố trong Hiến pháp sửa đổi năm 1992, và được thể chế hóa toàn diện qua Luật Bình đẳng giới ban hành ngày 29/11/2006.

Mặc dù khung pháp lý đã được ban hành, thực tiễn đời sống xã hội vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Thống kê của Viện Xã hội học vào tháng 02/2006 chỉ ra rằng có tới 66% các vụ ly hôn liên quan đến bạo hành gia đình, 5% phụ nữ bị chồng đánh đập thường xuyên, 82% hộ dân nông thôn và 80% hộ dân thành phố ghi nhận có xảy ra bạo lực, đồng thời tỷ lệ ngược đãi phụ nữ ở các gia đình khá giả lên tới 76%. Báo cáo "Khác biệt giới trong nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam" (2002) do Ủy ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, UNDP và FAO công bố cũng cho thấy phụ nữ và trẻ em gái chịu nhiều thiệt thòi: thu nhập thấp hơn trong cùng loại công việc, tập trung ở nhóm nghề đòi hỏi kỹ năng thấp, ít cơ hội giữ vị trí quan trọng, trình độ học vấn thấp, thời gian lao động nhiều hơn, thời gian giải trí và điều kiện dinh dưỡng kém hơn nam giới, trong khi quyền hạn gia đình phần lớn nằm trong tay đàn ông.

Đặc biệt, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với gần 18 triệu dân là một trong những vùng có tỷ lệ nữ biết chữ thấp nhất nước. Theo tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa, khu vực này có đến 70% trẻ em gái bỏ học; tỷ lệ có bằng đại học ở nam giới là 2,5% trong khi ở nữ giới chỉ là 1,6%; tỷ lệ phụ nữ kết hôn trước 18 tuổi là 16,3% và tỷ lệ phụ nữ chấp nhận bạo lực gia đình cao hơn các vùng khác. Tại tỉnh Tiền Giang, tỷ trọng dân số từ 5 tuổi trở lên có 4,7% nữ giới chưa từng đi học (cao gấp 2 lần nam giới), tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên qua đào tạo nghề của nam cũng cao hơn nữ. Dưới góc độ tâm lý học xã hội, PGS.TS. Trần Thị Minh Đức nhận định nguyên nhân sâu xa của bất bình đẳng giới bắt nguồn từ định kiến và phân biệt đối xử theo giới. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở cấp độ xã hội vĩ mô mà chưa đi sâu nghiên cứu khía cạnh tâm lý của cha mẹ trong phạm vi gia đình nông thôn. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Thực trạng cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con ở một số gia đình huyện Gò Công - tỉnh Tiền Giang" được tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng thực hiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thực trạng cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con ở một số gia đình huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong gia đình, góp phần hạn chế sự phân biệt đối xử đối với trẻ em.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 2 nhiệm vụ):
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến bình đẳng giới, định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới tính.
    2. Khảo sát thực trạng cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con thể hiện ở ba phương diện nhận thức, thái độ và hành vi tại một số gia đình huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
  • Giả thuyết nghiên cứu:
    • Vẫn còn tồn tại sự phân biệt đối xử theo giới tính của con ở một số gia đình nông thôn huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang; trong đó con gái là đối tượng chịu thiệt thòi theo hướng bất lợi.
    • Người cha có biểu hiện phân biệt đối xử với con gái nhiều hơn người mẹ.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con.
    • Khách thể nghiên cứu: Các cặp vợ chồng đã có cả con trai và con gái, thường trú tại huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
    • Phạm vi khảo sát: Do giới hạn về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu tập trung khảo sát trên mẫu 32 cặp vợ chồng (được chọn từ 47 khách thể ban đầu) thỏa mãn hai tiêu chuẩn: trong độ tuổi từ 35 đến 45 và đã có cả con trai lẫn con gái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm nền tảng của tâm lý học xã hội và xã hội học giới, đồng thời phân định ranh giới khoa học giữa các thuật ngữ:

  • Giới (Gender) và Giới tính (Sex): Tác giả tiếp thu các quan điểm của Lê Thị Quý, Trần Thị Quế, Bùi Ngọc Oánh và đặc biệt là định nghĩa của Trần Thị Minh Đức. Giới tính là sự khác biệt sinh học bẩm sinh, giải phẫu (kích thước, hình dạng cơ thể) và sinh lý (hormone, chức năng cơ quan) giữa nam và nữ, mang tính bất biến, đồng nhất ở mọi nền văn hóa và không thể chuyển đổi chức năng sinh sản. Ngược lại, giới là tập hợp các vai trò, trách nhiệm, hành vi ứng xử và quyền lợi do xã hội quy định cho từng giới trong một bối cảnh văn hóa - lịch sử nhất định; giới có thể biến đổi và đa dạng. Khóa luận phân tích ba vai trò giới cơ bản: vai trò sản xuất (tạo thu nhập), vai trò tái sản xuất (sinh sản, nuôi dưỡng, duy trì lực lượng lao động gia đình) và vai trò cộng đồng.
  • Định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới tính: Khái niệm định kiến được đối chiếu qua định nghĩa của Nguyễn Khắc Viện, J.P. Chaplin, Fisher và Godefroid. Định kiến giới là những quan niệm, thái độ tiêu cực, rập khuôn giản đơn về khả năng, phẩm chất và hành vi của nam hoặc nữ mà không phản ánh đúng năng lực thực tế. Phân biệt đối xử theo giới tính (dẫn theo Công ước CEDAW, tài liệu Liên Hợp Quốc và Trần Thị Minh Đức) là sự cụ thể hóa của định kiến giới vào hành động thực tiễn—bao gồm mọi sự hạn chế, loại trừ dựa trên giới tính nhằm ngăn cản việc thụ hưởng bình đẳng các quyền con người và tiềm năng phát triển.
  • Cấu trúc tâm lý ba thành phần (Nhận thức - Thái độ - Hành vi): Đề tài vận dụng lý thuyết học tập xã hội (nhấn mạnh quá trình xã hội hóa thời thơ ấu) và mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức (phản ánh hiện thực, hình thành thế giới quan), thái độ (xúc cảm, tình cảm, sự lựa chọn chủ quan) và hành vi (biểu hiện hành động bên ngoài có ý thức). Những khuôn mẫu giới mà cha mẹ hấp thụ từ quá khứ định hình nhận thức, từ đó chi phối thái độ và biến thành hành vi đối xử phân biệt đối với con trai và con gái.

Khóa luận triển khai phối hợp bốn phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu từ sách báo, tạp chí chuyên ngành, các văn bản pháp luật, báo cáo thống kê dân số và luận văn khoa học liên quan để xây dựng khung khái niệm và thiết kế công cụ đo lường.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket): Quá trình khảo sát được tổ chức qua hai vòng:
    • Vòng 1 (Khảo sát mở): Thu thập các nhận định ban đầu của cha mẹ tại Gò Công về vai trò, nghĩa vụ phụng dưỡng, hỗ trợ kinh tế, mức độ ưu tiên đầu tư học tập và phân công lao động gia đình. Dữ liệu này làm tiền đề thiết lập phiếu hỏi chính thức.
    • Vòng 2 (Khảo sát chính thức): Sử dụng phiếu hỏi hoàn chỉnh để lấy ý kiến của 32 cặp cha mẹ. Cấu trúc phiếu gồm 4 phần chuyên biệt: Phần 1 đo lường nhận thức về vai trò, sự cần thiết của việc học và trách nhiệm việc nhà; Phần 2 đo lường thái độ ưa thích con trai/con gái qua mong muốn sinh; Phần 3 khảo sát hành vi phân biệt trong đầu tư thời gian, trợ cấp học tập, việc nhà và hành vi tìm kiếm con trai; Phần 4 khảo sát nhận thức về các nguyên nhân gây ra sự phân biệt đối xử.
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp song song với việc phát phiếu hỏi, ghi nhận các giải thích định tính, hoàn cảnh cụ thể và tâm tư của từng phụ huynh để minh chứng cho các số liệu định lượng.
  4. Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ dữ liệu thu được từ bảng hỏi được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 18.0 để tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con

Chương 1 dành dung lượng lớn để tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước, đồng thời xác lập hệ thống khái niệm công cụ:

  • Nghiên cứu quốc tế: Tác giả trích dẫn công trình tại Bangladesh của Lincoln C. Chen, Emdadul Huq và Stan D'Souza chỉ ra tỷ lệ trẻ em gái suy dinh dưỡng lên tới 14,4% so với 5,1% ở trẻ em trai do sự phân bổ thực phẩm và chăm sóc y tế thiên vị con trai. Nghiên cứu năm 2010 tại Ấn Độ của Silvia Helena Barcellos, Leandro Carvalho và Adriana Lleras-Muney ghi nhận trẻ trai dưới 1 tuổi được cha mẹ chăm sóc nhiều hơn gái 30 phút/ngày (143%), trẻ dưới 6 tuổi nhận nhiều hơn 60 phút/ngày (30%), đồng thời trẻ trai có tỷ lệ tiêm chủng, bú mẹ và bổ sung vitamin cao hơn 10%. Tại Hồng Kông, nghiên cứu năm 2012 của Yi-Chung Chan và Jui-Chung Allen Li chứng minh áp lực tài chính khiến học vấn của con gái bị hy sinh cho anh em trai. Các nghiên cứu của Monica Das Gupta (1995 tại Trung Quốc) và Kim Eun-Shil (tạp chí Asian Journal of Women's Studies) khẳng định vị thế của phụ nữ phụ thuộc chặt chẽ vào việc sinh được con trai nhằm duy trì dòng giống và đảm bảo tài chính khi về già.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Tác giả phân tích khảo sát của Đoàn Kim Thắng (1985) về tâm lý người nông dân chịu sức ép xã hội phải có con trai; Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 của Tổng cục Dân số - KHHGĐ cho thấy 37% người từ 18–60 tuổi cho rằng nhất thiết phải có con trai (lý do: nối dõi tông đường chiếm 85,7%, nương tựa tuổi già chiếm 54,2%, làm việc lớn chiếm 23,0%); Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 ghi nhận tỷ số giới tính khi sinh là 110,6 bé trai/100 bé gái với 45/63 tỉnh thành rơi vào tình trạng mất cân bằng (Hải Dương, Hưng Yên vượt ngưỡng 120/100). Nghiên cứu của ICRW, ISDS (2012) chỉ ra mức độ yêu thích con trai tại Việt Nam cao gấp đôi con gái. Về phương diện đầu tư giáo dục, Lê Thúy Hằng (2006, Nam Định) phát hiện 80% cha mẹ dự định cho con trai học đại học/cao đẳng so với 61,5% ở con gái dù học lực tương đương; Đỗ Ngọc Khanh và Bahr Weiss (2011) ghi nhận định kiến "con gái học nhiều cũng chẳng giải quyết được gì" là nguyên nhân trực tiếp khiến trẻ em gái bỏ học sớm. Về phân công gia đình, Nguyễn Minh Nhâm và Đặng Ánh Tuyết chỉ ra trẻ em gái gánh vác việc nội trợ áp đảo (nấu ăn 97,5% so với 79,2% ở nam; đi chợ 80,1% so với 49,0% ở nam), số giờ làm thêm phụ giúp gia đình của nữ là 20,9 giờ/tuần so với 14,9 giờ/tuần ở nam, và 28,7% gia đình ưu tiên chia tài sản cho con trai trong khi chỉ 0,6% ưu tiên cho con gái.
  • Cơ sở lý luận và nguyên nhân: Tác giả phân tích bản chất của sự phân biệt đối xử qua các giai đoạn nhận thức, thái độ và hành vi; đồng thời khái quát 5 nhóm nguyên nhân cốt lõi: định kiến, phong tục truyền thống ("nữ thân ngoại tộc"); áp lực từ thân tộc, láng giềng; trình độ học vấn và tính chất nghề nghiệp của cha mẹ (học vấn thấp tỷ lệ nghịch với mức độ bình đẳng giới); trải nghiệm bất bình đẳng thời thơ ấu; và tác động từ thực tiễn an sinh xã hội kết hợp với chính sách quy mô gia đình nhỏ (sinh từ 1 đến 2 con khiến áp lực lựa chọn giới tính gia tăng).

Chương 2: Thực trạng cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con ở một số gia đình huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực địa tại huyện Gò Công với mẫu 32 cặp cha mẹ (thuộc độ tuổi 35–45, có cả con trai và con gái). Dữ liệu tập trung phản ánh thực trạng nhận thức của cha mẹ về vai trò và trách nhiệm của các con trong các vấn đề gia đình, được tổng hợp cụ thể qua Bảng 2.2:

Nội dung khảo sát Tỷ lệ Đồng ý (%) Tỷ lệ Không đồng ý (%) Tỷ lệ Đồng ý một phần (%)
Chỉ có con trai mới có thể thờ cúng, giữ hương hỏa cho tổ tiên 84,4 — —
Con gái nhất thiết phải biết làm các công việc nội trợ còn con trai có thể không biết 75,0 — —
Con gái không thể chủ trì được các buổi lễ, tiệc, giải quyết các việc lớn trong gia đình 71,9 — —
Khi chia tài sản cho các con, cha mẹ nên chia tài sản cho con trai nhiều hơn 59,4 — 28,1
Con gái khó có thể giúp đỡ cha mẹ về mặt tài chính sau khi đã lập gia đình nhưng con trai thì có thể làm được 56,6 — —
Chỉ có con trai mới có thể bảo vệ được tài sản và kiếm thêm thu nhập về cho gia đình 53,1 31,3 —
Chỉ con trai mới là chỗ dựa cho cha mẹ khi về già 50,0 15,6 34,4

Số liệu Bảng 2.2 cho thấy nhận thức của cha mẹ tại huyện Gò Công mang đậm tính thiên vị giới tính:

  • Quan niệm gắn liền với chức năng tâm linh và điều hành dòng họ đạt mức đồng thuận áp đảo: 84,4% cha mẹ đồng ý rằng chỉ con trai mới có thể thờ cúng tổ tiên, và 71,9% cho rằng con gái không có năng lực chủ trì việc lớn hay các buổi lễ tiệc. Phỏng vấn sâu chú Sáu T (xã Thạnh Nhựt) minh họa rõ điều này: "Con gái lấy chồng rồi thì nó thờ bàn thờ của nhà chồng nó chứ làm sao thờ bàn thờ của nhà chú được... những việc đó phải dành cho con trai, vì vốn dĩ bổn phận đó là của con trai và con trai cũng giỏi giang hơn con gái".
  • Định kiến về phân công lao động nội trợ tiếp tục đè nặng lên trẻ em gái khi 75,0% cha mẹ cho rằng con gái bắt buộc phải biết việc nội trợ còn con trai thì không cần. Chú T giải thích: "Xưa nay, việc nhà là việc của đàn bà, con gái. Đàn ông, con trai mà chui vô bếp lui cui trong đó thì coi lắm sao cho được, tụi nó phải làm những việc cho ra dáng con trai".
  • Về phương diện kinh tế và an sinh tuổi già, 56,6% cho rằng con gái khó giúp đỡ tài chính sau kết hôn, 50,0% xem con trai là chỗ dựa duy nhất lúc già yếu và 53,1% khẳng định chỉ con trai mới bảo vệ được tài sản, tạo thu nhập. Chú C (xã Thạnh Trị) cho biết: "Con gái nó lấy chồng thì lệ thuộc tiền bạc vào chồng, đâu còn phụ cha mẹ được nữa, chỉ còn con trai ở với mình thì nó nuôi mình, phụ mình chăm lo cho em út nó".
  • Hệ quả trực tiếp của nhận thức này thể hiện ở việc phân chia tài sản thừa kế: 59,4% cha mẹ đồng ý chia nhiều tài sản hơn cho con trai và 28,1% đồng ý một phần. Cô H (vợ chú C) trần tình: "Con gái lấy chồng rồi không thể nuôi cha mẹ khi về già... vậy nên phải chia tài sản cho con trai nhiều hơn để nó còn nuôi mình".

Kết quả và đóng góp của khóa luận

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Khóa luận xác nhận giả thuyết nghiên cứu ban đầu: hiện tượng phân biệt đối xử theo giới tính đối với con cái vẫn tồn tại dai dẳng tại các gia đình nông thôn huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Con gái là đối tượng chịu thiệt thòi trên hầu hết các mặt đời sống gia đình.
    • Về mặt nhận thức, các con số điều tra thực chứng phản ánh mức độ định kiến sâu sắc: 84,4% cha mẹ tuyệt đối hóa vai trò thờ cúng tổ tiên của con trai; 75,0% áp đặt việc nội trợ cho con gái; 71,9% phủ nhận năng lực quản trị công việc lớn của nữ giới; 59,4% chủ trương chia nhiều tài sản thừa kế hơn cho con trai; và trên 50% xem con trai là chỗ dựa kinh tế duy nhất khi về già.
    • Phân tích định tính từ các trường hợp phỏng vấn sâu cho thấy định kiến giới đã được bình thường hóa dưới dạng tập tục, bổn phận đạo đức truyền thống và các chuẩn mực giới bất thành văn.
  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục bình đẳng giới tại địa bàn nông thôn, tập trung thay đổi nhận thức của các bậc cha mẹ về vai trò, năng lực của con gái trong việc phát triển kinh tế gia đình và xã hội.
    • Vận động xóa bỏ định kiến giới trong phân công lao động nội trợ, khuyến khích con trai chia sẻ công việc nhà và hỗ trợ con gái tiếp cận cơ hội học vấn cao hơn.
    • Thay đổi quan niệm bất bình đẳng trong phân chia tài sản thừa kế và nhận thức về trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ khi về già, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho con gái.
  • Đóng góp của khóa luận:
    • Về mặt học thuật: Khóa luận là một trong những công trình chuyên biệt tiếp cận hiện tượng phân biệt đối xử theo giới tính trong gia đình dưới lăng kính tâm lý học xã hội tại Việt Nam, thay vì chỉ tiếp cận thuần túy dưới góc độ thống kê xã hội học vĩ mô. Tác giả đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ chế tác động qua lại giữa nhận thức, thái độ và hành vi của phụ huynh.
    • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ số liệu sơ cấp xác thực về thực trạng bất bình đẳng giới tại huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang, tạo căn cứ dữ liệu khoa học cho các cơ quan hoạch định chính sách dân số, gia đình và trẻ em tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của đề tài:
    • Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nghiên cứu, quy mô mẫu khảo sát còn khiêm tốn, chỉ dừng lại ở 32 cặp vợ chồng tại huyện Gò Công.
    • Phạm vi khách thể bị giới hạn trong khung tuổi từ 35 đến 45 và điều kiện phải có cả con trai lẫn con gái, chưa bao quát được các nhóm phụ huynh trẻ tuổi hơn hoặc các hộ gia đình đơn giới tính (chỉ sinh toàn con gái hoặc chỉ sinh toàn con trai).
    • Nghiên cứu chưa so sánh đối chứng giữa khu vực nông thôn và thành thị trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên toàn tỉnh Tiền Giang và các tỉnh khác thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tăng tính đại diện thống kê.
    • Đi sâu phân tích so sánh định lượng mức độ phân biệt đối xử giữa người cha và người mẹ để kiểm chứng toàn diện giả thuyết về sự khác biệt giới của chủ thể đối xử.
    • Khảo sát bổ sung góc nhìn phản hồi từ chính các đối tượng con cái (vị thành niên nam và nữ) nhằm đánh giá tác động tâm lý dài hạn của định kiến gia đình đến sự phát triển nhân cách của trẻ em.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo phù hợp:
    • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Xã hội học, Công tác xã hội và Giới & Phát triển.
    • Cán bộ làm công tác bình đẳng giới, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ, cán bộ dân số - kế hoạch hóa gia đình tại các cấp cơ sở, đặc biệt tại khu vực Tây Nam Bộ.
    • Các nhà nghiên cứu đang xây dựng đề tài về tâm lý gia đình nông thôn, sự biến đổi của chuẩn mực văn hóa gia đình truyền thống và các vấn đề an sinh xã hội cho trẻ em gái.
  • Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Chương 1: Bức tranh tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế rất công phu, cung cấp nguồn trích dẫn học thuật phong phú và sự phân định tường minh giữa các khái niệm giới, giới tính, định kiến giới và phân biệt đối xử.
    • Thiết kế phương pháp nghiên cứu: Quy trình xây dựng công cụ khảo sát hai vòng (vòng khảo sát mở định tính kết hợp vòng phiếu hỏi chính thức định lượng) và cấu trúc bảng hỏi phân tích ba chiều nhận thức - thái độ - hành vi.
    • Dữ liệu định tính ở Chương 2: Các đoạn trích dẫn phỏng vấn sâu mang đậm hơi thở thực tế đời sống nông thôn Nam Bộ, cung cấp chất liệu phân tích tâm lý xã hội xác thực.

Câu hỏi thường gặp

Khách thể khảo sát của khóa luận được lựa chọn dựa trên những tiêu chí cụ thể nào?
Tác giả tiến hành sàng lọc từ 47 khách thể ban đầu và chọn ra 32 cặp cha mẹ thường trú tại huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang, đáp ứng đồng thời hai tiêu chuẩn bắt buộc: nằm trong độ tuổi từ 35 đến 45 và đã sinh được cả con trai lẫn con gái.

Số liệu khảo sát tại huyện Gò Công ghi nhận tỷ lệ cha mẹ giữ định kiến về việc thờ cúng tổ tiên và điều hành việc lớn gia đình là bao nhiêu?
Theo kết quả Bảng 2.2, có tới 84,4% cha mẹ đồng ý với nhận định "Chỉ có con trai mới có thể thờ cúng, giữ hương hỏa cho tổ tiên" và 71,9% đồng ý rằng "Con gái không thể chủ trì được các buổi lễ, tiệc, giải quyết các việc lớn trong gia đình".

Quan niệm của phụ huynh tại địa bàn khảo sát đối với việc phân chia tài sản thừa kế và trách nhiệm nội trợ thể hiện như thế nào?
Khảo sát chỉ ra 59,4% cha mẹ đồng ý chia nhiều tài sản hơn cho con trai (cùng 28,1% đồng ý một phần), xuất phát từ quan niệm chỉ có con trai mới ở cùng để phụng dưỡng cha mẹ già. Đồng thời, có tới 75,0% cha mẹ cho rằng con gái nhất thiết phải biết làm nội trợ còn con trai có thể không biết.

Những nghiên cứu quốc tế nào được tác giả viện dẫn để làm sáng tỏ tình trạng phân biệt đối xử với trẻ em gái trong gia đình?
Khóa luận trích dẫn nghiên cứu của Lincoln C. Chen và cộng sự tại Bangladesh (chỉ ra tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em gái là 14,4% so với 5,1% ở trẻ trai); nghiên cứu năm 2010 của Silvia Helena Barcellos và cộng sự tại Ấn Độ (trẻ trai dưới 1 tuổi được chăm sóc nhiều hơn gái 30 phút/ngày, dưới 6 tuổi nhận nhiều hơn 60 phút/ngày và hưởng điều kiện y tế tốt hơn 10%); nghiên cứu năm 2012 của Yi-Chung Chan và Jui-Chung Allen Li tại Hồng Kông về sự suy giảm trình độ học vấn của con gái để ưu tiên cho con trai; cùng các nghiên cứu tại Trung Quốc của Monica Das Gupta (1995) và Hàn Quốc của Kim Eun-Shil.

Vì sao khóa luận tiếp cận vấn đề phân biệt đối xử theo giới tính dưới góc độ tâm lý học thay vì thuần túy xã hội học?
Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình trước đây chỉ mô tả hiện tượng bất bình đẳng ở bình diện xã hội vĩ mô. Việc tiếp cận dưới góc độ tâm lý học xã hội cho phép giải thích nguồn gốc nội tâm sâu xa thông qua mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức (sự phản ánh các khuôn mẫu văn hóa truyền thống), thái độ (xúc cảm, sự mong muốn, thiên vị) và hành vi (các quyết định cụ thể trong nuôi dưỡng, giáo dục, phân chia tài sản) của các bậc cha mẹ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu và nhiệm vụ khoa học đặt ra, làm sáng tỏ thực trạng cha mẹ phân biệt đối xử theo giới tính của con tại huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang trên cơ sở phối hợp phương pháp điều tra định lượng và phỏng vấn sâu. Các phát hiện thực nghiệm của đề tài khẳng định định kiến giới truyền thống vẫn chi phối mạnh mẽ nhận thức và hành vi ứng xử của phụ huynh nông thôn, đặc biệt trong phân công việc nhà, thừa kế tài sản và quan niệm phụng dưỡng. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho công tác nghiên cứu tâm lý gia đình cũng như việc hoạch định các giải pháp truyền thông thúc đẩy bình đẳng giới tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.