CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE SỰ PHAN BIET DOI XỬ THEO GIỚI TÍNH CỦA CON 1. Lịch sử nghiên cứu về cha mẹ phân biệt đối xứ theo giới tính của con 1. Lịch sử nghiên cứu về phân biệt đối xứ theo giới tính của con ở nước ngoài Đề cập đến van đề phân biệt đôi xử theo giới tinh của con, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu và khai thác trên những bình diện khác nhau có thé dé cập đến một số nghiên cứu nỏi bật ve van đề này. Trong nghiên cứu về Thiền vị giới tinh trong việc phân bồ thực phẩm và chăm sóc sức khỏe ở vùng nông thôn Bangladesh của nhóm tác gia Lincoln C.
Chen, Emdadul Hug và Stan D'souza đã tìm hiểu về việc chăm sóc sức khóe cho trẻ em ở vùng nông thôn Bangladesh. Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em gai bị suy đinh dưỡng chiếm 14,4% trong khi tre em trai chi 5,1%. Theo đỏ, nhóm tắc gia đã kết luận ở vùng nông thôn Bangladesh có tình trang phân biệt đổi xử với trẻ em trai va trẻ em gái trong việc phân bỏ thực pham va chăm sóc sức khỏe. Con trai luôn được ưu tiên hơn trong van đề sinh dưỡng vả y tế [53, 55-70}.
Mot nghiên cứu khác cua Silvia Helena Barcellos, Leandro Carvalho và Adriana Lleras-Muney thực hiện năm 2010 tai An Độ nhằm tim hiểu trong gia đình thi cha mẹ dành thời gian cham sóc cho con cái như thé nao. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã khang định các gia đình nông thôn An Độ đổi xứ khác nhau giữa con trai và con gái: cùng độ tudi dưới 1, con trai sẽ được dảnh thời gian chăm sóc nhiêu hon con gái 30 phút mỗi ngày (nhiều hơn 143%), các gia đình có một con đưới 6 tuổi đảnh nhiều hơn 60 phút (30%) mỗi ngảy dé chăm sóc con nếu đó là con trai. Nhóm tác gia cũng chứng minh con trai có xu hướng được tiêm ngừa bệnh, được bú sữa mẹ va được cung cấp vitamin nhiều hơn con gái 10% [54]. Các nghiên cứu trên đã cho thấy cha mẹ có sự phân biệt đối xử với con trai và con gai của mình trong gia đình, theo đó ngay tử nhỏ, con trai đã được ưu tiên hơn con gái về chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe, thời gian và y tế.
Trong lĩnh vực giáo dục, tai Hong Kông, có công trình của hai tac giả Yi- Chung Chan và Jui-Chung Allenli được thực hiện vào năm 2012, nghiên cứu ve Rang buộc tài chính và sự wa thích con trai trong dau tư cho giáo dục o Hong Kông nhằm tìm hiểu dy định đầu tư cho việc học của con cái ở người din. Kết quả nghiên cứu được đưa ra: nếu trong gia đình có chị gái thi trình đỏ học vấn của anh em trai sẽ tăng, nhưng với anh trai thì trình độ của chị em gái không tăng, trong gia đình có thêm em trai và em gái, thì trình độ học vấn cua chị em gái sẽ giảm, chứ anh em trai thi không giảm, thêm nữa, nếu trong gia đình nào em trai có nhiều chị gái thì em trai sẽ được hưởng trình độ học van cao nhất, trong gia đình trình độ học van của chị em gái có xu hướng thấp hơn anh em trai [55]. Nghiên cứu của Monica Das Gupta Quan điềm cuée dai tự chủ cua phụ nữ và kết quả sức khỏe được thực hiện vào năm 1995 tại Trung Quốc đã chứng minh hau hết người din ở đất nước này yêu thích va can con trai hơn con gái. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: trong hệ thông gia đình kiêu gia trưởng, một người phụ nữ khi kết hôn sẽ bị cha mẹ ruột cũng như gia đình bên chong xem như người ngoai cho den khi sinh được con trai.
Điều nay chứng tỏ rằng hầu hết người dân ở đất nước nảy yêu thích con trai hơn con gái vả việc sinh hạ được đứa con trai sẻ giúp cho vị thé của người phụ nữ trong gia đình chắc chắn hơn [56]. Cùng nghiên cứu về sự ưa thích con trai hơn con gái, tạp chí Asian journal of women đăng tai công trình nghiên cứu của Kim Eun-Shil: Quyên nữ giới dựa vào việc sinh con trai. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân phụ nữ lại muốn sinh cho bằng được con trai, bởi họ cho rằng khi sinh được 7 con trai thì sẽ không cô đơn khi vẻ già và được đảm bảo tài chính khi không con du sức lao động. Nhưng trên hết, việc họ nhất định phải sinh được con trai là dé được chấp nhận bơi chồng và gia đình chong [57].
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, có khá nhiều công trình nghiên cửu của các nước có liên quan đến vấn đề phân biệt đổi xử theo giới tính. Các công trình này hau hết là nghiên cứu trên những nước Châu A như: Hàn Quốc, Hong Kông, Trung Quốc, Án Độ,. đã cho thay có sự khác biệt vẻ: vai trò va quyền lợi của con trai, con gái trong gia đình. Lịch sử nghiên cứu về phân biệt đối xử theo giới tính của con ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề bình đăng giới.
phân biệt đối xử theo giới đã được quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt là ở thẻ kỷ 21, khi tình trạng mắt cân bảng giới tinh khi sinh và chất lượng dan số không đồng đều giữa nam va nữ đang có xu hướng gia tăng. Có thê kê đến những nghiên cứu như: Nghiên cứu "Quan niệm của người nông dân vẻ đẻ con trai và đẻ con gái", đăng trên tạp chí Xã hội học số 4 năm 1985, tác giả Đoàn Kim Thắng đã tìm hiểu những ảnh hưởng của tập tục đạo đức cũ tới sự phát triển dân số ở nông thôn. Kết qua nghiên cứu cho thấy: “Tam lý của họ còn bị sức ép nặng nẻ của dư luận xã hội khiến họ nghĩ rằng nhất thiết phải có được một đứa con trai”, Theo đó, tác gia đã kết luận rằng: mỗi gia đỉnh người nông dân luôn có nhu cầu nhất thiết phải có ít nhất một người con trai và vì thế họ phải đẻ cho đến khi có được con trai, trong khi đó nhu cầu nhất thiết phải có con gái lại thập hon rat nhiều [25].
Năm 2006, Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình thực hiện điều tra gia đình Việt Nam trên phạm vi cá nước. Kết quả điều tra vẻ '*Việc có con va sinh con trai, con gai” của gia đình Việt Nam cho thay vẫn còn 37% người có độ tudi từ 18 = 60 trả lời rằng “gia đình nhất thiết phải có con trai”. Nghiên cứu cũng chi ra nguyên nhân người dan muôn mỗi gia đình phải có con trai là đẻ "có người nói đôi tông đường” là 85,7 %, "có nơi nương tựa lúc tuôi giả” là $4,2 % và "có người làm việc lớn, việc nặng” lả 23. Ket qua điều tra của Tong Điều tra dan số va nha ở năm 2009, trong bieu | “Dan số chia theo thành thị/nông thôn, giới tính, các vùng kinh tế xã hội va tinh/thanh phé” da đưa ra kết qua: Việt Nam dang trong tinh trạng mat cân bang giới tinh ở mức báo động.
tình trang mat cân bằng giới tính khi sinh trải dải trên phạm vi cả nước và bắt đầu biến động mạnh tử năm 2006: tỉ số giới tính khi sinh là 1 10,6 bé trai và 100 bé gái. Kết quả điều tra cũng cho thay 45/63 tinh/thành phố bị mat cân bằng giới tính khi sinh, thậm chí các tinh như Hai Dương. Hưng Yên tỷ số nay vượt trên mức 120/100 [20]. Theo kết qua điều tra của Tổng điều tra dân số vả nhà ở như trên, ta cỏ thẻ đặt ra câu hoi; "Liệu rằng tình trạng cha mẹ yêu thích, muốn cỏ con trai hơn con gái nên da lựa chọn giới tính trẻ em khi mang thai vẫn còn tôn tại?", Nguyễn Hữu Minh (2012), với công trình nghiên cứu vẻ “Cac mỗi quan hệ trong gia đình ở Việt Nam: Một số van dé cần quan tam”, Kết qua cho thấy con trai vẫn là mục tiêu theo đuôi của nhiều gia đình và trong gia đình có sự phân biệt doi xử giữa con trai và con gái.
Theo do, tac gia đã chi ra nguyên nhân là do sự ki vọng của cha mẹ đối với con trai, con gai vẻ giả trị kinh te, xã hội ở gia đình là khác nhau. Từ đó, đã dẫn đến tinh trạng chọn lọc giới tính thai nhí khi sinh, cũng như cách đổi xử khác nhau của cha mẹ giữa con trai và con gai [27]. Cùng nghiên cứu về sự ưa thích con trai hơn con gái, năm 2012, một nghiên cứu của Trung tâm quốc tế nghiên cứu về phụ nữ, phối hợp với Trung tâm Nghiên cửu môi trường, gia đình va dân số ở Nepal cùng Viện Nghiên cửu Phát trên Xã hội của Việt Nam tiến hanh “Nghiên cứu về Giới, Nam tinh va sự ưa thích con trai ở Nepal và Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu đã cho thay hai van đẻ sau: “Sự wa thích con trai và con gai" được do ở nhóm “rat quan trọng” và két quả cho thay, ở Việt Nam, sự yêu thích con trai cao gap hai lần so với yêu 9 thích con gái.
Cha mẹ có quan niệm mỗi gia đình cần có con trai hơn là con gái. “Vai trò cua con trai và con gái trong gia đình ` Cac tac gia đã nêu ra: cha mẹ xem vai trỏ của con gái là chia sẻ vẻ mặt tinh cảm và ganh nặng công việc gia đình, trong khi con trai thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội và tôn giáo [28]. Phải chăng điêu này nói lên rằng: quan niệm hiện tại cúa cha mẹ vẫn chưa công nhận khả năng của con gái trong việc thực hiện các chức nang kinh tế - xã hội? Và là tiền đề dẫn đến việc cha mẹ không muốn cho con gai học nhiêu? Nhừng nghiên cứu trên đã cho thấy rằng, hiện nay cha mẹ vẫn còn yêu thích con trai hơn con gải, vẫn xem trọng con trai hơn trong việc thực hiện các vai trỏ kinh tế, sản xuất và cộng đồng. Chính những nhận thức nay đã tạo ra sự khác biệt của cha mẹ trong việc đầu tư cho tương lai, vấn dé học tập của con cái mình.
Các công trình nghiên cứu sau đây đã chứng minh cho điều ấy: Năm 2006, dé tài "Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con cái” tại Xã Lộc Hòa, Tỉnh Nam Định. Lê Thúy Hằng đã cho thấy dự định của cha mẹ trong việc đầu tư cho con cái trong học tập là khác nhau giữa con trai và con gái.