Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA PHÁP LUAT VE BAO VỆ TRE EM TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG INTERNET 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Trẻ em, bảo vệ trẻ em Trẻ em là thuật ngữ chỉ một nhóm người trong xã hội ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra đến tuổi dậy thì.
Đó là những người chưa phát trién day đủ về thé chat và tinh than, dé bị tổn thuong, về mặt xã hội chưa có nhận thức đúng đắn toàn điện các van đề, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kế cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời. Hiện nay, căn cứ theo các văn bản quốc tế và các chương trình của Liên Hợp quốc sử dụng đồng thời cả hai khái niệm “trẻ em” và “người chưa thành niên”. Theo đó Liên Hợp Quốc đã ban hành quy định người thành niên là người đủ 18 tudi và người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Như vậy, thông qua đó, chúng ta có thé thay trẻ em theo quy định của Liên Hợp Quốc là những người dưới 18 tuôi.
Tại Việt Nam, Luật Trẻ em 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi ”. Đó là tất cả trẻ em dưới 16 tuổi, không phân biệt là công dân Việt Nam hay người có quốc tịch, người không quốc tịch ở lãnh thổ Việt Nam đều được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục như nhau. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều văn bản pháp luật Việt Nam đề cập tới trẻ em nhưng trong những trường hợp cụ thê có liên quan đến độ tuôi của trẻ em thì thường dùng từ "người" hoặc "người chưa thành niên" và xác định độ tuổi rất khác nhau. Mặc dù không có một điều khoản thống nhất quy định rõ ràng về độ tuổi trẻ em, nhưng về cơ bản, các quy định xung quanh khái niệm này đều tương thích với điều khoản ghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989.
Do đó có thé đưa ra định nghĩa chung nhất về trẻ em là: Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, non nớt về thé chất và trí tuệ, cần được sự đặc biệt quan tâm và bảo vệ. Khái niệm bảo vé tré em được nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu khác nhau sử dụng và định nghĩa trong các tình huống cụ thể. Luật Trẻ em năm 2016 đưa ra khái niệm bảo vệ trẻ em như sau: “Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và 10 xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Có thê thay khái niệm bảo vệ trẻ em trong Luật Trẻ em năm 2016 là khá toàn diện, với cách tiếp cận theo từng cấp độ cụ thé từ bảo đảm môi trường sống an toàn cho trẻ em đến việc phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại trẻ em và trợ giúp khi trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.
Theo đó, tác giả đồng tình với khái niệm và cách tiếp cận như vậy. Quyền trẻ em là tat cả những gi cần có dé trẻ em được sông và phát triển một cách lành mạnh và an toàn. Bảo vệ trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em là van đề cấp thiết của mỗi quốc gia. Bảo vệ quyền trẻ em là trách nhiệm của các cơ quan, tô chức, cá nhân trong việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội, văn hoá.
và thực hiện các biện pháp dé trẻ em có cơ hội được tiếp cận, thụ hưởng day đủ các quyên của trẻ em một cách day đủ trên thực tế. Các cơ quan tư pháp, với chức năng nhiệm vu bảo vệ pháp luật, các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, cơ quan thi hành án - trong phạm vi quyền hạn của mình - có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm quyền trẻ em trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật và nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất cho trẻ; Thực hiện các biện pháp ở các cấp độ phòng ngừa, vai trò của các t6 chức hỗ trợ - bảo vệ trẻ em và đặc biệt là các chuyên gia, các nhà hoạt động xã hội liên quan đến trẻ em là vô cùng quan trọng. Thông qua các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền trẻ em cho chính các em và cộng đồng; Gia đình phải là nơi trẻ cảm nhận được sự an toàn cao nhất. Để đảm bảo điều đó, cha mẹ, các thành viên thành niên khác trong gia đình cần gần gũi trẻ để nắm bắt được sự thay đổi trong tâm lý cũng như phán đoán được những nguy cơ mà trẻ có thé bị xâm hại từ chính gia đình cũng như xã hội, từ đó có biện pháp cần thiết dé bảo vệ trẻ; 7rzưởng hoc trang bị cho các em những kiến thức văn hóa, xã hội, các kỹ năng sống dé các em có thê nhận thức được cách hành xử phù hợp với đạo đức và pháp luật.
Bên cạnh đó cần trang bị cho các em các kiến thức về quyền và bổn phận của các em cũng như các kỹ năng tự vệ, nhận biệt các nguy cơ có thê dan đên việc các em bị xâm hai va 11 biết cách xử lý nó; Cộng đồng dân cư có thê giúp các em hình thành nhân cách tốt nhưng cũng có thê là tác nhân đưa đến những suy nghĩ, hành vi tiêu cực cho các em. Trẻ em luôn luôn là đối tượng cần phải được quan tâm và ưu tiên bảo vệ nhất trong xã hội. Dem đến một môi trường an toàn một cách toan diện là cách tốt nhất dé bảo vệ các em. Môi trường mang Internet Internet (phiên âm Tiếng Việt: in-to-nét) là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau [70].
Mạng internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của internet là hệ thống thư điện tử (gmail), trò chuyện trực tuyến (chat, web chat), công cụ tìm kiếm (search google), các dịch vụ thương mại và chuyền ngân các dịch vụ về y té giao duc như chữa bệnh từ xa hoặc tô chức các lớp học ảo, lớp học trực tuyến, họp trực tuyến. chúng cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ không lỗ trên mạng internet. Luật Công nghệ thông tin năm 2006 quy định: “Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyén đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tang thông tin” (Điều 4). Tiếp đó, tại khoản 4 Điều 4 luật này chỉ rõ, cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đôi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở đữ liệu.
Tại khoản 3 Điều 2 Luật An ninh mang năm 2018 quy định: “Không gian mang là mạng lưới kết noi của cơ sở hạ tang công nghệ thông tin, bao gom mang viễn thông, mạng internet, mạng máy tỉnh, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian ”. Như vậy, môi trường mạng Internet là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau và tại đây con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới han bởi không gian và thời gian. 12 Môi trường mạng internet là nơi con người có thé tiếp cận với một khối lượng thông tin không 16, tuy nhiên cũng rất khó kiểm soát chất lượng của khối thông tin đó và trong nhiều trường hợp tạo nên tác động tiêu cực tới con người, đặc biệt là đối tượng chưa phát triển về thê chất, tinh thần cũng như chưa hoàn thiện về nhận thức như trẻ em. Có thể nói, mạng internet là một trong những phát minh tuyệt với nhất và mang đến cho tất cả mọi người trên thế giới quyền truy cập ngay lập tức vào nguồn cung cấp kiến thức và giải trí vô tận.
Pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mang internet Pháp luật là một khái niệm phức tạp, trải qua các thời đại và ở các khu vực trên thế giới, khái niệm pháp luật cũng được nhận thức một cách khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đảo tạo luật học cũng như trong sách báo pháp lí tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, có thể nói, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác nhau về câu chữ và thê hiện quan niệm về pháp luật với tư cách là một loại quy tắc ứng xử của con người, một loại chuẩn mực xã hội, pháp luật có những điểm cơ bản khác với các loại chuẩn mực xã hội khác như đạo đức, phong tục tập quan,. Theo giáo trình Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật (Trường Dai học Luật Hà Nội), có thé hiểu: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện đề điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục dich, định hướng cua nhà nước” [19].
Trẻ em là công dân đặc biệt được gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc. Theo Công ước về quyền trẻ em thì trẻ em cũng là một con người, là công dân của một quốc gia nên có đầy đủ các quyền cơ bản của con người, nhưng là “còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kế cả sự bảo về thích hợp về mặt pháp lý, trước cũng như sau khi ra đời”. Pháp luật quốc tế hiện nay có khoảng hơn 80 văn kiện quốc tế ( Công ước, tuyên ngôn, chương trình.) trực tiếp hoặc gián tiếp quy định hoặc có liên quan đến việc bảo vệ quyền trẻ em. Trong hệ thống công cụ bảo vệ trẻ em thì pháp luật là một hợp phần không thé thiếu, đó là cơ sở, là điêu kiện bắt buộc đê thực hiện các hoạt động bảo vệ trẻ em trên mọi lĩnh vực 13 của đời sông xã hội.
Môi trường mạng internet cũng không ngoại lệ.