Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ THÔNG TIN NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Khái niệm pháp luật bảo vệ thông tin của người tiêu dùng 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của bảo vệ thông tin của người tiêu dùng 1. Khái niệm về bảo vệ thông tin của người tiêu dùng Hiện nay trên thế giới chưa có một định nghĩa chung về người tiêu dùng.
Dưới góc độ kinh tế, người tiêu dùng được hiểu “là bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng…,thông thường người tiêu dùng được coi là cá nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thể là cơ quan, cá nhân và nhóm cá nhân”.1 Dưới góc độ pháp lý, cách tiếp cận về người tiêu dùng cũng có sự khác nhau. Theo từ điển Black’s Law, thuật ngữ người tiêu dùng được giải thích là người mua hàng hoá, dịch vụ vì mục đích sử dụng cho cá nhân, gia đình, hộ gia đình mà không nhằm mục đích bán lại.2 Cách tiếp cận về người tiêu dùng tại các bang của Hoa Kỳ cũng được hiểu khá thống nhất. Ví dụ Bang California định nghĩa người tiêu dùng là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình.3 Trong phạm vi Liên minh châu Âu (EU), hiện nay không có định nghĩa thống nhất về người tiêu dùng trong các văn bản của EU. Định nghĩa về người tiêu dùng được quy định trong một số Chỉ thị về luật hợp đồng (Contract Law), Quy định Brussel I số 44/2001 về thẩm quyền, công nhận và thi hành các phán quyết về các vấn đề thương mại và dân sự và Quy định Rome I số 593/2008 về áp dụng luật đối với nghĩa vụ hợp đồng.
Theo đó, người tiêu dùng được quan niệm là “thể nhân hành động vì mục đích ngoài thương mại, kinh doanh và nghề nghiệp của mình”. Với cách tiếp cận trên, có thể thấy về mặt chủ thể người tiêu dùng theo quy định của pháp luật EU không bao gồm pháp nhân kể cả khi pháp nhân đó mang đặc tính phi lợi nhuận ví dụ như các hiệp hội phi lợi nhuận. Vấn đề này cũng đã được nhấn mạnh trong một số án lệ của EU. Luật Bảo vệ người tiêu dùngcủa Đài Loan năm 1994 xác định người tiêu dùng là “người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng”.
Tương tự Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ năm 1986 cũng định nghĩa “người tiêu dùng là bất cứ người nào mua hàng hoá…mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác”. Tại Việt Nam, thuật ngữ người 1 David D. Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB. Chính trị quốc gia, tr.193 2 Từ điển Black’s Law Dictionary (Bryan A.
Garner), 10th Edition, Bản in lần thứ 11, tr. 382-383 3 Điều 3, Luật An toàn sản phẩm (Product Safety Act) bang California năm 1972 (sửa đổi năm 2011). 6 tiêu dùng lần đầu tiên được ghi nhận tại Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngnăm 1999 và tới Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngtiếp tục kế thừa tinh thần của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngnăm 1999 quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Cách tiếp cận về khái niệm người tiêu dùng theo quy định trên ở phạm vi khá rộng cụ thể, người tiêu dùng là “người” mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ tức có thể bao gồm cá nhân, pháp nhân hay tổ chức khác là những người mua, sử dụng hàng hoá cho mục đích tiêu dùng (phi thương mại).
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác khau về người tiêu dùng nhưng những tiêu chí chung để xác định người tiêu dùng đó là: i) Về tư cách chủ thể: đa số các trường hợp quan niệm người tiêu dùng là cá nhân, nhưng cũng có số ít mở rộng phạm vi chủ thể người tiêu dùng bao gồm cá nhân và pháp nhân; ii) Về cách thức tiếp cận hàng hoá, dịch vụ: người tiêu dùng bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hoá dịch vụ trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh; trong một số trường hợp quan niệm rộng hơn không chỉ bao gồm người sử dụng thụ hưởng hàng hoá dịch vụ trực tiếp giao kết hợp đồng mà còn gồm những người sử dụng, thụ hưởng không trực tiếp giao kết hợp đồng; iii) Về mục đích sử dụng: sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng hay mục đích phi thương mại. Thông tin người tiêu dùng được hiểu là một loại thông tin/dữ liệu cá nhân. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin cá nhân. Ví dụ, tại Điều 14.1 Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) giải thích thông tin cá nhân “là bất kỳ thông tin nào, bao gồm dữ liệu cá nhân đã được xác định hoặc có thể xác định về đặc điểm cá nhân”.
Tương tự, trong Bộ nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử của APEC đã xác định thông tin cá nhân là “bất kỳ thông tin nào để xác định được hay có thể xác định được danh tính của một cá nhân cụ thể”. Tại Việt Nam, hiện nay không có điều khoản nào quy định cụ thể thế nào là thông tin cá nhân, tuy nhiên căn cứ vào quy định của những văn bản pháp luật liên quan có thể thấy hiện nay pháp luật Việt Nam tiếp cận khái niệm về thông tin cá nhân tương tự như cách tiếp cận phổ biến trên thế giới. Nói cách khác, thông tin cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm bất kỳ thông tin nào được sử dụng để xác định danh tính của một cá nhân cụ thể. Như vậy, thông tin cá nhân bao gồm nhiều loại thông tin khác nhau nhằm xác định, nhận diện cá nhân như tên, chữ ký, địa chỉ, số điện thoại, ngày tháng năm sinh, thông tin nghề nghiệp, số tài khoản ngân hàng, số hộ chiếu, số căn cước công dân, ảnh cá nhân.
Nếu như thông tin cá nhân được sử dụng để xác 7 định danh tính cá nhân thì thông tin người tiêu dùng gắn liền với việc xác định danh tính của người tiêu dùng. Điểm khác biệt giữa các thông tin cá nhân với thông tin người tiêu dùng ở chỗ, thông tin của người tiêu dùng được thu thập và lưu trữ bởi các doanh nghiệp trong quá trình xác lập giao dịch với người tiêu dùng hoặc qua các khảo sát thị trường của họ.4 Thông tin của người tiêu dùng có một vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp và trong việc thiết lập hợp đồng giao dịch thương mại điện tử. Những thông tin thu thập được từ người tiêu dùng sẽ giúp cho doanh nghiệp định hướng cho chiến lược và hoạt động kinh doanh của mình đối với những nhóm người tiêu dùng mà doanh nghiệp sẽ tiếp cận để thực hiện hoạt động quảng cáo, kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp cũng như đánh giá được thị hiếu, xu hướng tiêu dùng của người tiêu dùng để có những điều chỉnh thích hợp cho hoạt động kinh doanh trong tương lai đối với những nhóm khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp hướng tới. Bên cạnh đó, thông tin người tiêu dùng đã được thu lập, lưu trữ cho phép doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong giao dịch đã thiết lập giữa doanh nghiệp và mặt khác cũng tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận với khách hàng cũ.
Lưu trữ thông tin khách hàng cũ là một kênh liên lạc hiệu quả nhằm duy trì mối quan hệ ổn định giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng truyền thống.5 Bởi vậy, các hoạt động thu nhập, khai thác và sử dụng thông tin người tiêu dùng ngày càng phát triển với quy mô và hình thức đa dạng, đặc biệt trong thời đại kỹ thuật số thông tin người tiêu dùng không chỉ dừng lại ở những thông tin định danh người tiêu dùng mà còn bao gồm cả những thông tin mô tả hành vi, cách thức suy nghĩ và giao dịch của chính người tiêu dùng.6 Đối với các giao dịch mua bán trong môi trường thương mại điện tử thì thông tin của người tiêu dùng đóng vai trò là điều kiện thiết yếu để xác lập hợp đồng điện tử bởi lẽ giao dịch không thể tiến hành được nếu không có các thông tin cơ bản của bên mua tức thông tin của người tiêu dùng. Ví dụ để mua một sản phẩm qua Shopee, người mua hàng phải cung cấp những thông tin cá nhân để thực hiện thanh toán đối với sản phẩm khi đồng ý mua sản phẩm đó. Đây là điều kiện cơ bản để xem giao dịch thành công bởi những thông tin mà người mua cung cấp sẽ là cơ 4 Ngô Vĩnh Bạch Dương, Bảo vệ thông tin người tiêu dùng, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12 (388)/2019, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210358, truy cập ngày 10/11/2020. 5 Ngô Vĩnh Bạch Dương (2013).
Một số vấn đề lý luận về bảo vệ thông tin người tiêu dùng. Đề tài nghiên cứu khoa học Nghiên cứu pháp luật về quyền cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin người tiêu dùng, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.63 6 Bảo vệ thông tin người tiêu dùng trong thời kỳ kinh tế số, https://www.vn/tin-chi-tiet/-/chi- tiet/bao-ve-thong-tin-nguoi-tieu-dung-trong-thoi-ky-kinh-te-so-6150-22.html, truy cập ngày 10/11/2020. 8 sở để người bán xác nhận được địa chỉ chuyển hàng, phương thức thanh toán sản phẩm… Với vai trò quan trọng của thông tin của người tiêu dùng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như đã đề cập ở trên thì việc bảo vệ thông tin của người tiêu dùng là vấn đề tất yếu và quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp. Hiện nay, tại Việt Nam doanh nghiệp rất dễ dàng có thể mua được danh sách khách hàng với các thông tin kèm theo như số điện thoại, địa chỉ thư điện tử (e-mail), nghề nghiệp…Về phía người tiêu dùng, người tiêu dùng có thể nhận các cuộc điện thoại, tin nhắn không mong muốn từ các doanh nghiệp có thể là để quảng cáo sản phẩm, chào mời sử dụng dịch vụ, thậm chí cung cấp các thông tin sai lệch nhằm mục đích lừa đảo người tiêu dùng.
Thực trạng trên không chỉ ảnh hưởng tới bản thân người tiêu dùng mà còn tác động tới uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.