phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng đƣợc kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1. Khái quát chung về quỹ đầu tƣ chứng khoán và pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ chứng khoán tham gia quỹ đầu tƣ chứng khoán Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ nhà đầu tƣ chứng khoán tham gia quỹ đầu tƣ chứng khoán Chƣơng 3. Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhà đầu tƣ chứng khoán khi tham gia quỹ đầu tƣ chứng khoán tại Việt Nam 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỸ ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NHÀ ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN THAM GIA QUỸ ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm Quỹ đầu tƣ chứng khoán 1. Sự hình thành và phát triển của Quỹ đầu tư chứng khoán Khi tham gia đầu tƣ trên thị trƣờng chứng khoán và các hoạt động đầu tƣ khác nhà đầu tƣ sẽ gặp phải muôn vàn khó khăn, sự khó khăn nhất đó chính là lựa chọn chứng khoán để đầu tƣ. Nhà đầu tƣ phải có bản lĩnh, kiến thức chuyên môn và thông tin đầy đủ để đánh giá mức độ sinh lợi của loại chứng khoán mà mình đầu tƣ vào. Nhƣng trên thực tế không phải nhà đầu tƣ nào cũng có đầy đủ các điều kiện nêu trên.
Bên cạnh đó nhằm phân tán rủi ro nhà đầu tƣ còn có nhu cầu đa dạng hóa danh mục đầu tƣ, họ cần phải đầu tƣ vào nhiều loại chứng khoán. Nhƣng nhu cầu này lại vấp phải rào cản là khả năng tài chính của mỗi nhà đầu tƣ, với số tiền ít ỏi của một nhà đầu tƣ thì việc đa dạng hóa danh mục đầu tƣ gặp rất nhiều khó khăn. Vì những lý do này nhà đầu tƣ cần phải đầu tƣ thông qua tổ chức chuyên nghiệp và quỹ đầu tƣ chứng khoán ra đời. Nhƣ vậy quỹ đầu tƣ chứng khoán ra đời chính do nhu cầu nội tại của thị trƣờng chứng khoán.
Xuất hiện lần đầu tại Châu Âu vào thế kỷ 18, loại hình quỹ đầu tƣ chứng khoán đã thu hút đƣợc sự tham gia đông đảo của công chúng và đã trở thành một định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Các Quỹ đầu tƣ ban đầu đƣợc thành lập theo kiểu Quỹ tín thác đầu tƣ (Investment Trust). Quỹ tín thác đầu tiên do vua William I của Hà Lan thành lập tại Brussels – Bỉ. Quỹ này đƣợc lập ra để tạo điều kiện cho Hà Lan có thể đƣa tiền đầu tƣ ra nƣớc ngoài dƣới dạng các khoản vay của chính phủ.
Tuy nhiên, phải đến khi cuộc cách mạng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghiệp bùng nổ ở Anh thì các Quỹ đầu tƣ mới thực sự phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp này đã đƣa nƣớc Anh thành một quốc gia thịnh vƣợng nhất Châu Âu, sở hữu những nguồn vốn lớn. Trong khi đó, các nƣớc láng giềng ở Châu Âu hay Mỹ thì lại đang thiếu vốn trầm trọng. Vì vậy, các nƣớc thiếu vốn đã phát hành rất nhiều công cụ nợ với lãi suất hấp dẫn nhằm thu hút vốn cho quá trình đầu tƣ ra nƣớc ngoài, nhƣng việc đầu tƣ này thƣờng gặp phải những khó khăn do không tiếp cận đƣợc những thông tin cần thiết và thiếu những hiểu biết về môi trƣờng đầu tƣ nƣớc ngoài.
Trƣớc tình hình đó, một số nhà đầu tƣ đã lập ra Quỹ đầu tƣ hải ngoại và thuê những chuyên gia hiểu biết về đầu tƣ nƣớc ngoài đứng ra quản lý. Đây chính là tiền thân của các Quỹ đầu tƣ phổ biến trên thị trƣờng tài chính hiện nay. Vào những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ 19, các công ty tín thác tƣơng tự nhƣ của Hà Lan đƣợc lập ra ở Anh và Scotland. Hiệp hội tài chính London (London Financial Association) và Tập đoàn tài chính quốc tế (International Financial Society) thành lập năm 1863 đƣợc coi là những công ty tín thác đầu tiên của Anh.
Các thƣơng nhân Anh và Scotland ngày đó muốn tìm kiếm nhiều lợi nhuận hơn nên đã đem các khoản tiền đầu tƣ của họ ra nƣớc ngoài và đặc biệt là đầu tƣ vào các chứng khoán của Mỹ với tỷ suất lợi nhuận cao. Từ năm 1900 đến 1914, một lƣợng tiền khổng lồ từ các nhà đầu tƣ Anh đã đổ vào Mỹ đặc biệt trong lĩnh vực đƣờng sắt, năng lƣợng. Quỹ đầu tƣ chứng khoán ngành đƣờng sắt và năng lƣợng (The Railway and Light Securities Fund) là quỹ đóng đầu tiên của Mỹ áp dụng các quỹ cho vay làm đòn bẩy để thâu tóm chứng khoán đã ra đời năm 1904. Vào những năm 1920, mô hình công ty tín thác đầu tƣ bùng nổ ở Mỹ đáp ứng sở thích đầu cơ của các nhà đầu tƣ.
Thế nhƣng, cuộc Đại suy thoái 1929 - 1933 đã làm ảnh hƣởng nặng nề tới các Quỹ đầu tƣ. Chỉ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, các Quỹ đầu tƣ mới bắt đầu đƣợc khôi phục và phát triển trở thành một định chế trung gian ƣu việt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhƣ hiện nay. Điều này một phần là nhờ hệ thống luật định làm khuôn khổ pháp lý cho sự hoạt động của các quỹ ngày càng đƣợc hoàn thiện. Tại Mỹ, hai dự luật làm cơ sở căn bản nhất cho hoạt động chứng khoán là Luật Chứng khoán (The Securities Act, 1933) và Luật về Sở giao dịch chứng khoán (The Securities Exchange Act, 1934).
Cũng từ năm 1934, Uỷ ban chứng khoán của Mỹ (SEC) bắt đầu nghiên cứu những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc Đại suy thoái, soạn thảo và cho ra đời Luật Công ty đầu tƣ (Investment Company Act, 1940). Phần lớn các Quỹ đầu tƣ bắt đầu ra đời hoặc đƣợc tái lập sau năm 1940 để đáp ứng các quy định của đạo luật này. Đến năm 1995, luật này lại đƣợc sửa đổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn hơn nữa cho ngƣời đầu tƣ đồng thời cho phép các quỹ đƣợc áp dụng các nghiệp vụ đầu tƣ mới nhất. Ở Châu Á, ngay từ năm 1937 ở Nhật Bản đã xuất hiện một số quỹ tƣơng tự nhƣ Quỹ đầu tƣ.
Đây là một tổ chức do một số nhà đầu tƣ thành lập nên để lợi dụng các dịch vụ đầu tƣ do công ty chứng khoán cung cấp. Đây chính là mầm mống cho sự ra đời các Quỹ đầu tƣ về sau của Nhật. Tại Nhật Bản, Luật tín thác (Trust Law) và Luật kinh doanh tín thác (Trust Business Law) là các bộ luật điều chỉnh hoạt động của các Quỹ đầu tƣ. Không chỉ ở các nƣớc có nền tài chính phát triển nhƣ Anh, Mỹ…, mô hình Quỹ đầu tƣ còn giữ một vị trí quan trọng trên các thị trƣờng chứng khoán mới nổi.
Việc thành lập các Quỹ đầu tƣ ở thị trƣờng này bắt nguồn từ nhu cầu của những nền kinh tế còn yếu kém nhiều mặt, đòi hỏi phải cải thiện khả năng thanh toán và trợ giúp cơ sở hạ tầng phát triển. Nói tóm lại, hoạt động của các Quỹ đầu tƣ phát triển không ngừng, mở rộng trên tất cả các thị trƣờng chứng khoán thế giới. Nắm trong tay một lƣợng vốn khổng lồ, các Quỹ đầu tƣ ngày càng chứng tỏ vai trò của mình – một định 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chế tài chính trung gian quan trọng đáp ứng nhu cầu của ngƣời đầu tƣ và ngƣời nhận đầu tƣ cũng nhƣ của cả nền kinh tế. Tại Việt Nam, tiếp nhận các bài học, kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới, ngay từ khi hình thành thị trƣờng chứng khoán chính thức vào năm 2000, pháp luật đã dự liệu và có những quy định về việc thành lập quỹ đầu tƣ chứng khoán.
Mặc dù vậy mãi tới năm 2004, quỹ đầu tƣ chứng khoán đầu tiên mới ra đời đó là quỹ đầu tƣ chứng khoán VF1 do công ty liên quỹ đầu tƣ chứng khoán doanh quản lý quỹ Việt Nam VFM thành lập [31]. Cho tới nay Việt Nam đã có 24 quỹ đầu tƣ chứng khoán [27]. Định nghĩa quỹ đầu tư chứng khoán Từ lịch sử hình thành và phát triển của quỹ đầu tƣ chứng khoán trên thế giới ta nhận thấy quỹ là một hiện tƣợng khách quan, ra đời do nhu cầu cấp thiết của nhà đầu tƣ, giúp nhà đầu tƣ quản trị, sử dụng đồng vốn của mình một cách hợp lý nhất. Tại Việt Nam hiện đang có một số quan điểm về quỹ đầu tƣ chứng khoán nhƣ sau: Dƣới góc độ kinh tế quỹ đầu tƣ chứng khoán là một tập hợp những khoản tiền từ những ngƣời đầu tƣ đƣợc hình thành từ việc phát hành các chứng chỉ huy động vốn (chứng chỉ quỹ đầu tƣ) để đầu tƣ vào các công cụ trên thị trƣờng tài chính [24, tr297].
Dƣới góc độ khoa học pháp lý quỹ đầu tƣ chứng khoán là quỹ tiền hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tƣ để đầu tƣ chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận [23, tr256]. Khoản 27 Điều 6 Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006 định nghĩa: Quỹ đầu tƣ chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tƣ với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tƣ vào chứng khoán hoặc các dạng tài 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản đầu tƣ khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tƣ không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tƣ của quỹ. Từ những định nghĩa trên ta rút ra kết luận: quỹ đầu tƣ chứng khoán hình thành từ sự góp vốn của nhiều nhà đầu tƣ nhằm mục đích sinh lợi bằng cách đầu tƣ vào chứng khoán, các công cụ trên thị trƣờng tài chính (bao gồm cả chứng khoán và các công cụ tài chính khác) và các dạng tài sản đầu tƣ khác. Sở dĩ Luật Chứng khoán Việt Nam quy định quỹ đầu tƣ chứng khoán Việt Nam có lĩnh vực hoạt động rộng nhƣ vậy vì thị trƣờng chứng khoán Việt Nam chƣa phát triển, hàng hóa trên thị trƣờng chƣa thật chất lƣợng và nhiều lựa chọn cho quỹ đầu tƣ chứng khoán, nếu chỉ gói gọn lĩnh vực hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán thì quỹ đầu tƣ không có điều kiện đa dạng hóa danh mục đầu tƣ và không thể phân tán tốt rủi ro.
Trên thế giới quỹ đầu tƣ chứng khoán đƣợc tổ chức dƣới hai hình thức là quỹ dạng hợp đồng không có tƣ cách pháp nhân và quỹ dạng công ty có tƣ cách pháp nhân. Từ định nghĩa của quỹ đƣợc phân tích ở phần trên cho thấy tại Việt Nam quỹ đầu tƣ chứng khoán đƣợc tổ chức dƣới dạng không phải là pháp nhân.