CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 1. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động 1. Khái niệm bảo vệ quyền lợi người sử dụng lao động Trong đời sống xã hội, hàng hóa không tự nhiên có để phục vụ nhu cầu con người, nền kinh tế cũng không thể tự mình dịch chuyển và phát triển. Phía sau những thành quả ấy là công sức lao động của con người, lực lượng sản xuất6 của xã hội, NSDLĐ và NLĐ.
Hai chủ thể này được xem như hai cánh tay đắc lực của Nhà nước trong việc đưa nền kinh tế quốc gia phát triển và duy trì sự phồn vinh của đất nước. Theo pháp luật Lao động tại một số quốc gia, NSDLĐ được định nghĩa như sau, Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản, “NSDLĐ là tất cả những người thực hiện hành vi vì chủ doanh nghiệp, về những sự việc liên quan đến NLĐ của công việc này, mặt khác là người đảm nhiệm công việc kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp”7. Hay nói đơn giản NSDLĐ là có thể là người được chủ doanh nghiệp thuê về để thực hiện các công việc liên quan đến NLĐ, hoặc cũng có thể chính là người chủ của doanh nghiệp đó. Luật Lao động Trung Quốc, “NSDLĐ phải thiết lập, duy trì các nguyên tắc và chế độ theo pháp luật, bảo đảm NLĐ được hưởng quyền lợi khi làm việc và thực hiện nghĩa vụ lao động với họ”8.
Từ hai cách định nghĩa trên ta thấy được cách định nghĩa của pháp luật Nhật Bản mang tính khái quát cao, việc xác định chủ thể NSDLĐ phụ thuộc nhiều vào ý chí của người áp dụng pháp luật. Dễ gây nên sự hoang mang, vì định nghĩa chưa cụ thể, rõ ràng, phạm vi quá rộng dẫn đến việc khó xác định chủ thể nào là NSDLĐ trong mối quan hệ xã hội đa dạng. Cách định nghĩa của pháp luật Trung Quốc mang tính áp đặt nghĩa vụ, không trình bày dấu hiệu nhận biết NSDLĐ trong môi trường làm việc, mức độ khái quát và tính chung trong quy định rất cao và rộng. 6 Lực lượng sản xuất là một khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa NLĐ với tư liệu sản xuất nhằm tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định, tham khảo, Lê Thị Chiên, “Quan điểm của C.
Mác về lực lượng sản xuất và vấn đề bổ sung, phát triển quan điểm này trong giai đoạn hiện nay”, nguồn: https://www.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/821033/view_content, truy cập ngày 20/04/2021. 7 Điều 10 Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản 1947. 8 Điều 4 Luật Lao động Trung Quốc 1994. 10 Theo quy định của pháp luật Lao động Việt Nam, “NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng NLĐ làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp NSDLĐ là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”9.
Lần sửa đổi năm 2019, các nhà làm luật đã thay cụm từ “theo hợp đồng lao động” thành “theo thỏa thuận” thể hiện sự tiến bộ, có quan sát rút kinh nghiệm từ thực tiễn. Vì trên thực tế vẫn tồn tại nhiều mối quan hệ lao động, nhưng các bên không có ký kết bất kỳ hợp đồng lao động, chỉ thỏa thuận bằng miệng, hay còn gọi hợp đồng quân tử10. Lần sửa đổi này giúp mở rộng thêm phạm vi xác định NSDLĐ trong mối quan hệ xã hội, đã không còn bó buộc chỉ trong phạm vi theo hợp đồng lao động như Bộ luật năm 2012. Từ đó, có thể thấy quy định này sẽ bảo vệ tốt hơn quyền lợi của NSDLĐ trong những trường hợp họ không ký hợp đồng lao động, không bỏ sót đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Lao động.
Ngoài ra, pháp luật Lao động Việt Nam định nghĩa theo phương pháp liệt kê, việc này dễ dàng hơn trong việc xác định, phân loại. Tuy nhiên, thì hạn chế của phương pháp này là dễ liệt kê thiếu, dẫn đến hệ quả có những chủ thể là NSDLĐ nhưng lại không được công nhận vì không nằm trong phần liệt kê. Dù vậy Quốc hội vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp này, có lẽ điều này mang lại hiệu quả, và không có bất cập hay sự thiếu sót khi áp dụng pháp luật trên thực tế. Dù sử dụng phương pháp định nghĩa nào thì cũng sẽ tồn tại hai mặt ưu và nhược điểm, điều quan trọng là phương pháp đó phù hợp với tình hình, điều kiện phát triển của mỗi quốc gia.
Miễn sao việc quy định tạo sự dễ hiểu, thuận lợi để người dân áp dụng trên thực tế không vướng nhiều nhiều bất cập. Từ đó ta có thể hiểu một cách đơn giản NSDLĐ là người thuê, mướn, sử dụng sức lao động của người khác để phục vụ công việc của mình dựa trên thỏa thuận giữa hai bên. Quyền lợi được hiểu là những lợi ích chính trị, xã hội, vật chất hoặc tinh thần do kết quả lao động của bản thân tạo nên hoặc do phúc lợi chung do Nhà nước, xã hội hoặc tập thể cơ quan, tổ chức nơi mình sinh sống, làm việc mang lại11. Nói cách khác, quyền lợi của NSDLĐ là những lợi ích về chính trị, xã hội,… mà họ nhận được do kết quả lao động họ đã đóng góp, mang về cho đất nước về mặt kinh tế và xã hội, điều này làm chúng ta liên tưởng đến nguyên tắc sống “cho đi - nhận lại”.
9 Khoản 2 Điều 3 BLLĐ 2019. 10 Lê Hồng Thanh (2002), tlđd (5) , Tr. 11 Bộ tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa - Tư pháp, tr.
11 Vì vậy việc bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ là việc chúng ta bảo vệ những mặt lợi ích mà NSDLĐ được hưởng theo quy định của pháp luật. Đây cũng là một trong những nguyên tắc được Hiến pháp 2013 ghi nhận. Dựa trên nguyên tắc này, pháp luật Lao động đã ghi nhận các quyền của NSDLĐ: quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, thuê mướn, tuyển chọn lao động; quyền quản lý, điều hành lao động; quyền xử lý kỷ luật đối người vi phạm, khen thưởng đối với người NLĐ có thành tích; quyền được bảo vệ khi có tranh chấp lao động xảy ra; quyền được bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của NLĐ gây ra12. Lần sửa đổi gần đây nhất, năm 2019 các nhà làm luật đã quan tâm hơn trong việc bảo vệ quyền lợi NSDLĐ, để nhằm tiến tới xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, phục vụ quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam13.
Vị trí người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động Để có được cuộc sống hiện đại, con người văn minh như ngày hôm nay, loài người chúng ta đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, với nhiều lần chuyển mình “thay đổi màu áo mới”. Từ thời sơ khai, loài người cùng chung huyết thống, sống bầy đàn, hay còn gọi là thị tộc, kinh tế lúc bấy giờ là sở hữu chung về tư liệu sản xuất và tài sản. Sau một thời gian, số lượng người trong thị tộc ngày càng tăng lên, họ tách riêng ra thành các bộ lạc, từ quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân, trong chính thời kỳ này công cụ kim loại đã xuất hiện. Một sự thay đổi lớn giúp đời sống của tổ tiên ta trở nên dư dả, bắt đầu có sự phân công lao động xã hội giữa trồng trọt, chăn nuôi, nông nghiệp với thủ công nghiệp, con người cũng trở nên sở hữu riêng thành quả lao động của mình, hay còn gọi là sở hữu tư nhân.
Nhờ vậy bộ tộc ra đời, một tập hợp người đông hơn thay thế bộ lạc và liên minh các bộ lạc. Sự ra đời của bộ tộc đánh dấu sự tan rã của xã hội công xã nguyên thủy và chế độ tư hữu xuất hiện. Trong xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp, giữa người sở hữu nhiều tài sản, tư liệu sản xuất và người không có gì hoặc sở hữu ít. Từ đó, dẫn đến mâu thuẫn giai cấp, Nhà nước ra đời để điều hòa và giải quyết mâu thuẫn này.
Sự xuất hiện của Nhà nước góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, trong việc đề ra các chính sách, chiến lược, đường lối,… với quyền lực của mình Nhà nước tổ chức các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Qua đó, ta thấy được hoạt động lao 12 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật lao động, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr. 13 Nguyễn Văn Bình (2020), “Bộ luật Lao động (sửa đổi) - khung khổ pháp lý mới xây dựng quan hệ lao động và phát triển lực lượng lao động”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 05 - 02/2020, tr. 12 động của con người được thực hiện liên tục từ thời xa xưa cho đến ngày nay, từ việc tạo ra thức ăn để duy trì sự sống, đến việc tạo ra sản phẩm trao đổi lấy các sản phẩm khác, và cao hơn con người biết tích trữ của cải để mở rộng quy mô sản xuất và làm giàu cho chính mình, tạo sự phân chia địa vị xã hội.
Hoạt động tạo ra sản phẩm với sự tham gia giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người góp sức như vậy được coi là quan hệ lao động. Cụ thể, theo quy định của pháp luật, “quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ, NSDLĐ, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể. Từ định nghĩa trên ta biết được quan hệ lao động được thiết lập giữa NSDLĐ, người có tư liệu sản xuất trong xã hội, và NLĐ, người làm công, góp sức, là mối quan hệ thuê mướn và có trả tiền lương.
Như vậy, NSDLĐ trong mối quan hệ này ở vị trí cao hơn và nắm nhiều quyền lực trong tay, cụ thể NSDLĐ bằng quyền năng được pháp luật cho phép, họ thực hiện quyền tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động, theo nhu cầu sản xuất, công tác, khen thưởng và xử lý vi phạm đối với NLĐ15. Điều này cũng dễ hiểu, xuất phát từ việc họ là người có nhiều của cải và tư liệu sản xuất, vì cần người tạo ra sản phẩm nên mới thuê mướn người khác về làm công cho mình, nên có quyền lựa chọn, tuyển dụng, sắp xếp phân công lao động miễn sao đem lại lợi nhuận cho mình, và không vi phạm pháp luật.