phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo phần nội dung của đề tài đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề chung về bảo vệ ngƣời chuyển đổi giới tính theo quy định của pháp luật Việt Nam. 6 Chƣơng II: Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền chuyển đổi giới tính ở Việt Nam hiện nay. Chƣơng III: Quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chuyển đổi giới tính ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. 7 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ NGƢỜI CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.
Khái niệm, đặc điểm của việc chuyển đổi giới tính 1. Khái niệm chuyển đổi giới tính và ngƣời chuyển giới Sự cải thiện, nâng cao về chất lƣợng cuộc sống kéo theo sự quan tâm ngày càng sâu sắc của toàn xã hội đến các quyền nhân thân của con ngƣời, đặc biệt là các quyền liên quan đến giới tính. Giới tính là những khác biệt về mặt sinh học và biểu hiện xã hội giữa những ngƣời mang giới tính nam và giới tính nữ. Sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới thể hiện qua cơ quan sinh dục, khuôn mặt, hình dáng cơ thể, hormone (kích thích tố giới tính) và cả nhiễm sắc thể.
Thuật ngữ giới tính hay bị nhầm lẫn với thuật ngữ giới. Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nữ giới và nam giới. Vai trò giới đƣợc biết đến thông qua quá trình dạy dỗ, học tập và có sự khác nhau theo từng nền văn hoá, từng thời kỳ. Nhƣ vậy, giới là yếu tố thuộc cảm nhận, mong muốn của mỗi cá nhân, suy nghĩ của ngƣời đó về mình là nam hay nữ (bản dạng giới)1; còn giới tính là sự thể hiện bên ngoài của giới thông qua cấu tạo bộ phận trên cơ thể.
Sự biểu hiện của giới tính so với giới có thể thống nhất hoặc khác biệt. Khi giới và giới tính không đồng nhất, cá nhân thƣờng có mong muốn đƣợc chuyển đổi giới tính, tức là thay đổi cấu tạo, hình dáng các bộ phận trên cơ thể cho phù hợp với cảm nhận, mong muốn, khát vọng của chính mình. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc có những ngƣời đến một thời điểm nào đó một ngƣời tự nhận giới tính của mình khác với giới tính sinh học khi sinh ra (nam và nữ), bao gồm: (a) Do bẩm sinh: Các yếu tố sinh học nhƣ ảnh hƣởng bởi gen, mức độ nội tiết trƣớc khi mang thai, những trải nghiệm trong thời niên thiếu hay khi trƣởng thành và nhiều nghiên cứu cho thấy, một ngƣời chuyển giới thƣờng có cảm nhận về giới tính của bản thân mình từ khá sớm, từ 2-4 tuổi, xong việc công khai nhận mình là giới tính khác còn phụ thuộc vào kiến thức của từng cá nhân cũng nhƣ sự cởi mở của mỗi xã hội khác nhau. 1 Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thƣ (Wikipedia tiếng Việt) wiki/Bản_dạng_giới.
8 (b) Do xu hƣớng, phong trào: Phong trào đấu tranh của LGBT nói chung hay của ngƣời chuyển giới nói riêng nhằm thúc đẩy sự công nhận quyền LGBT và quyền chuyển giới trong xã hội. Nhiều cộng đồng đã phối hợp với nhau hoặc độc lập trong nhiều hoạt động khác nhau nhƣ phong trào đòi quyền và các hoạt động của ngƣời chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, InterPride hầu nhƣ là tổ chức điều phối các hoạt động lễ hội quốc tế về niềm tự hào của cộng đồng này1. Mục tiêu của cộng đồng là đòi quyền LGBT và quyền chuyển đổi giới tính; xây dựng cộng đồng này về mặt luật pháp.
Phong trào ngày nay bao gồm các hoạt động nhƣ: “Văn hoá, vận động hành lang chính trị, diễu hành đồng tính”. Do đó, sự xuất hiện với số lƣợng gia tăng đáng kể ngƣời chuyển giới cũng xuất phát từ nguyên nhân này. Chuyển đổi giới tính, theo nghĩa giản dị nhất, chỉ quá trình mà một con ngƣời hay động vật thay đổi từ giới tính sinh học từ khi sinh ra sang giới tính mới. Đây là quá trình xảy ra một cách tự nhiên ở một số loài, xong ở con ngƣời thì phải thông qua một quá trình với các biện pháp can thiệp khác nhau và thƣờng là diễn biến theo từng phần cho đến sự thay đổi hoàn toàn.
Các biện pháp quan trọng nhất bao gồm tiêm và sử dụng hormone hay phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Phẫu thuật chuyển đổi giới tính là bắt buộc đối với những ngƣời có bản dạng giới khác với giới tính sinh học để có thể có một cơ thể hoàn toàn phù hợp với giới tính mong muốn của mình. Chuyển giới không đồng nhất với đồng tính mặc dù đƣợc xem là một ngƣời chuyển giới là ngƣời có giới tính mong muốn khác với giới tính lúc sinh ra, ví dụ sinh ra là nam và nghĩ mình là nữ hoặc sinh ra là nữ và nghĩ mình là nam. Chuyển giới liên quan tới cảm nhận về giới tính còn đồng tính là khái niệm chỉ sự hấp dẫn tình cảm, vì vậy chuyển giới và đồng tính là khác nhau.
Về mặt biểu hiện, không phải ngƣời 1 Theo Bách khoa toàn thƣ (Wikipedia tiếng Việt), tính đến tháng 6 năm 2011 9 chuyển giới nào cũng thể hiện ra bên ngoài đúng nhƣ giới tính mình mong muốn. Ví dụ: “Nam ăn mặc và hành xử như nữ, hay nữ ăn mặc và hành xử như nam”. Ngƣời chuyển giới còn đƣợc gọi là ngƣời hoán tính, khái niệm ngƣời hoán tính là chỉ trạng thái tâm lý giới tính của một ngƣời không phù hợp với giới tính của cơ thể; chẳng hạn, một ngƣời sinh ra với cơ thể nam nhƣng cảm nhận giới tính của mình là nữ hoặc một ngƣời sinh ra với cơ thể nữ nhƣng lại cảm nhận giới tính của mình là nam. Cảm nhận này không phụ thuộc vào việc ngƣời đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chƣa.
Trong trƣờng hợp ngƣời chuyển giới mà thực hiện phẫu thuật theo giới tính mình mong muốn gọi là ngƣời chuyển giới đã phẫu thuật. Ngƣời chuyển giới hoàn toàn độc lập với thiên hƣớng tính dục. Họ có thể thuộc xu hƣớng tính dục dị tính, đồng tính hoặc song tính, luyến ái… Một số khác có thể xem xét định hƣớng tính dục thông thƣờng không đầy đủ hoặc không áp dụng đối với họ. Có thể nói: “Người chuyển giới, hay còn gọi là người hoán tính, là người mà bản dạng giới hoặc thể hiện giới không tương ứng với chỉ định giới lúc sinh của họ1".
Bên cạnh đó, website này cũng đƣa ra khái niệm cụ thể về ngƣời chuyển giới nữ và ngƣời chuyển giới nam, theo đó ngƣời chuyển giới nữ là ngƣời sinh ra là nam và giới tính tự nhận, nghĩ rằng mình là nữ và ngƣời chuyển giới nam sinh ra là nữ và có giới tính tự nhận, nghĩ rằng mình là nam. Theo những định nghĩa này, việc xác định một cá nhân là ngƣời chuyển đổi giới tính phụ thuộc vào suy nghĩ, cảm nhận, và sự thừa nhận của chính họ, không phụ thuộc vào thủ tục pháp lý. Những ngƣời chuyển đổi giới tính đƣợc mô tả là những ngƣời khi sinh ra đã mang sẵn một giới tính sinh học nhất định dựa vào cơ quan sinh dục để phân biệt, nhƣng tâm lý của những ngƣời này cảm nhận rằng giới tính của họ không giống với giới tính mà cơ thể họ có. Không phải tất cả những ngƣời chuyển giới đều muốn thay đổi cơ thể họ, mặc dù một số khác thì mong muốn điều này.
Tuy nhiên, hầu hết những ngƣời chuyển giới đều mong muốn thiết lập một vai trò xã hội phù hợp với giới tính mà tâm lý của họ tự xác định. Tóm lại, có thể hiểu ngƣời chuyển giới là một khái niệm rộng, dùng để chỉ tất cả những ngƣời có bản dạng giới thể hiện giới không giống với những chuẩn mực tƣơng ứng với giới tính sinh học từ khi sinh ra của họ. 1 Theo Bách khoa toàn thư (Wikipedia tiếng Việt) wiki/Bản_dạng_giới. Đặc điểm của chuyển đổi giới tính và ngƣời chuyển giới Chuyển đổi giới tính là một vấn đề rất phức tạp và là quyết định rất khó khăn đối với những ngƣời chuyển giới.
Nhận thức thông thƣờng trong xã hội nhấn mạnh đến yếu tố phẫu thuật để chuyển đổi giới tính: “Chuyển đổi giới tính chỉ những thủ tục y khoa dùng để thay đổi giới tính của một người trong đó có thể bao gồm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay không”. Hiểu theo quan điểm này, việc chuyển đổi giới tính chỉ đơn thuần là sự tác động về mặt y học vào cơ thể con ngƣời, sau khi kết thúc các thủ tục đó họ sẽ đƣợc xã hội thừa nhận là ngƣời chuyển đổi giới tính mà không cần bất cứ một sự ghi nhận nào từ phía Nhà nƣớc. Cách hiểu này là chƣa chính xác, vì mỗi cá nhân trong xã hội đều là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật nên việc chỉ bao gồm các thủ tục y khoa là chƣa đầy đủ. Việc các cá nhân đã tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính mà chƣa đƣợc thực hiện các thủ tục pháp lý sẽ làm mất đi ý nghĩa của các thủ tục y khoa vì họ sẽ không thể tham gia vào các quan hệ xã hội với tƣ cách chủ thể mới.
Theo quan điểm của nhóm tác giả, cần phải nhìn nhận một cách tổng thể dƣới nhiều góc độ khác nhau, chuyển đổi giới tính không chỉ bao gồm các thủ tục y khoa mà còn có cả những thủ tục pháp lý, trong đó thủ tục y khoa là tiền đề và là cơ sở để tiến hành thực hiện các thủ tục pháp lý. Những thủ tục y khoa ở đây có thể bao gồm việc tiến hành xét nghiệm, kiểm tra, phẫu thuật, sử dụng nội tiết tố… Để thay đổi về mặt hình dạng theo đúng giới tính mà họ mong muốn. Việc thay đổi hình dáng cơ thể, bộ phận sinh dục chỉ mới giải quyết về mặt “hình thức” bởi những cá nhân này cần phải tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết để chính thức đƣợc thừa nhận, đƣợc tham gia vào những quan hệ xã hội với tƣ cách một chủ thể mới. Thủ tục pháp lý bao gồm thay đổi trên giấy tờ nhân thân và các giấy tờ liên quan tại các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền nhằm xác nhận một sự kiện pháp lý về thay đổi giới tính sinh học của họ.