Thông Điệp Bảo Vệ Quyền Lợi Công Nhân Trên Sóng Truyền Hình Địa Phương

Luận văn thạc sĩ ussh phân tích thông điệp bảo vệ quyền lợi công nhân qua sóng truyền hình địa phương, nêu bật tầm quan trọng và tác động.

Chuyên ngành

Báo chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

146
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đên đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Mục đích nghiên cứu

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

0.7. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THÔNG ĐIỆP VÀ THÔNG ĐIỆP VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÔNG NHÂN TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.2. Quyền lợi của công nhân

1.3. Truyền thông quyền bảo vệ công nhân

1.4. Truyền hình địa phương

1.5. Thông điệp quyền bảo vệ công nhân trên sóng truyền hình địa phương

1.6. Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân của báo chí

1.6.1. Quan điểm của Đảng về bảo vệ quyền lợi người công nhân

1.6.2. Chính sách pháp luật của Nhà nước quy định quyền lợi của công nhân

1.6.3. Những Ưu thế của thông điệp về vấn đề bảo vệ quyền lợi công nhân trên sóng truyền hình so với các phương tiện thông tin đại chúng khác

1.6.3.1. Đến được với lượng công chúng đông đảo
1.6.3.2. Dễ tiếp nhận

1.7. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình truyền hình mang thông về vấn đề bảo vệ quyền lợi công nhân trên sóng truyền hình

1.7.1. Yêu cầu về nội dung

1.7.2. Yêu cầu về hình thức thể hiện

1.7.3. Về kết cấu chương trình

1.7.4. Người dẫn chương trình

1.7.5. Thời lượng, thời điểm phát sóng chương trình

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THÔNG ĐIỆP VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÔNG NHÂN TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG

2.1. Giới thiệu vài nét về các Đài địa phương thuộc diện khảo sát

2.1.1. Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh

2.1.2. Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Nam

2.1.3. Đài Phát thanh – truyền hình Bình Dương

2.2. Nội dung các nhóm vấn đề về bảo vệ quyền lợi người công nhân trên sóng truyền hình địa phương

2.2.1. Về việc làm, tiền lương

2.2.2. Về vấn đề an sinh xã hội

2.2.3. Về an toàn lao động

2.3. Hình thức thể hiện thông điệp

2.3.1. Thông qua các chuyên trang, chuyên mục

2.3.2. Thời lượng và sự sắp đặt thời lượng đối với thông điệp

2.3.3. Hình ảnh và cách sử dụng hình ảnh thông điệp

2.3.4. Ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ

2.3.5. Âm thanh và việc xử lí âm thanh

2.4. Chất lượng thông điệp về vấn đề bảo vệ quyền lợi công nhân theo đánh giá của công chúng

2.4.1. Số lượng người xem

2.4.2. Đánh giá chất lượng thông điệp

2.4.3. Nhận xét những thành công và hạn chế

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÔNG NHÂN TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG

3.1. Những vấn đề đặt ra

3.2. Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng thông điệp

3.2.1. Tăng cường hoạt động giám sát và chỉ đạo đối với việc tổ chức thực hiện từng khâu trong sản xuất và phát hành các thông điệp

3.2.2. Coi trọng và thường xuyên nghiên cứu nhu cầu công chúng, thiết lập mối quan hệ gần gũi với công chúng để nhanh chóng nắm bắt những vấn đề cần thiết cho việc tổ chức thực hiện thông điệp

3.2.3. Tăng cường chất lượng và không ngừng đổi mới sản phẩm thông tin

3.2.4. Lựa chọn thời điểm thích hợp để phát sóng thông điệp

3.2.5. Tập huấn nâng cao chất lượng đội ngũ những người tham gia thiết kế sản xuất thông điệp

3.2.6. Xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho việc sản xuất và phát sóng thông điệp

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bảo Vệ Quyền Lợi Công Nhân Qua Truyền Hình Địa Phương

Bảo vệ quyền lợi công nhân là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Truyền hình địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông điệp này đến công chúng. Thông qua các chương trình phát sóng, thông tin về quyền lợi công nhân được phổ biến rộng rãi, giúp nâng cao nhận thức và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Việc sử dụng truyền hình địa phương để bảo vệ quyền lợi công nhân không chỉ mang lại lợi ích cho người lao động mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

1.1. Khái Niệm Về Quyền Lợi Công Nhân

Quyền lợi công nhân bao gồm các quyền cơ bản như quyền được làm việc trong môi trường an toàn, quyền được trả lương công bằng và quyền tham gia vào các tổ chức đại diện. Những quyền này được quy định trong Bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật liên quan.

1.2. Vai Trò Của Truyền Hình Địa Phương Trong Bảo Vệ Quyền Lợi

Truyền hình địa phương có khả năng tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả đến đông đảo công chúng. Các chương trình truyền hình không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo ra diễn đàn để công nhân bày tỏ ý kiến và phản ánh những vấn đề họ gặp phải trong công việc.

II. Những Thách Thức Trong Việc Bảo Vệ Quyền Lợi Công Nhân

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ quyền lợi công nhân, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như vi phạm luật lao động, thiếu thông tin và sự thiếu hụt trong việc thực thi các chính sách bảo vệ quyền lợi công nhân vẫn diễn ra. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của công nhân mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp.

2.1. Vi Phạm Luật Lao Động

Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Lao động, dẫn đến việc công nhân không được hưởng các quyền lợi hợp pháp của mình. Các vi phạm này thường xảy ra trong lĩnh vực tiền lương, giờ làm việc và điều kiện làm việc.

2.2. Thiếu Thông Tin Về Quyền Lợi

Nhiều công nhân không nắm rõ quyền lợi của mình do thiếu thông tin. Điều này dẫn đến việc họ không biết cách bảo vệ quyền lợi của mình khi gặp phải các vấn đề trong công việc.

III. Phương Pháp Bảo Vệ Quyền Lợi Công Nhân Qua Truyền Hình Địa Phương

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi công nhân, cần áp dụng các phương pháp truyền thông hiệu quả. Việc sản xuất các chương trình truyền hình chất lượng, phù hợp với nhu cầu và nhận thức của công chúng là rất quan trọng. Các thông điệp cần được thiết kế rõ ràng, dễ hiểu và hấp dẫn để thu hút sự chú ý của người xem.

3.1. Tăng Cường Chất Lượng Chương Trình

Chất lượng chương trình truyền hình cần được nâng cao thông qua việc đầu tư vào nội dung và hình thức thể hiện. Các chương trình cần có sự tham gia của các chuyên gia và công nhân để đảm bảo tính chính xác và thực tiễn.

3.2. Sử Dụng Các Kênh Truyền Thông Đa Dạng

Ngoài truyền hình, cần kết hợp với các kênh truyền thông khác như mạng xã hội, báo chí để mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao hiệu quả truyền thông về quyền lợi công nhân.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Thông Điệp Bảo Vệ Quyền Lợi Công Nhân

Việc ứng dụng các thông điệp bảo vệ quyền lợi công nhân trên sóng truyền hình địa phương đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các chương trình đã giúp nâng cao nhận thức của công chúng về quyền lợi của công nhân, đồng thời tạo ra diễn đàn để công nhân bày tỏ ý kiến và phản ánh những vấn đề họ gặp phải.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Truyền Thông

Nghiên cứu cho thấy rằng các chương trình truyền hình về quyền lợi công nhân đã thu hút được sự quan tâm lớn từ công chúng. Số lượng người xem và phản hồi tích cực cho thấy hiệu quả của các thông điệp này.

4.2. Tác Động Đến Nhận Thức Của Công Nhân

Các thông điệp đã giúp công nhân nhận thức rõ hơn về quyền lợi của mình, từ đó có hành động bảo vệ quyền lợi khi cần thiết. Điều này góp phần tạo ra môi trường làm việc công bằng và an toàn hơn.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Bảo Vệ Quyền Lợi Công Nhân

Bảo vệ quyền lợi công nhân qua truyền hình địa phương là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Với sự phát triển của công nghệ và truyền thông, việc nâng cao chất lượng thông điệp và mở rộng phạm vi tiếp cận sẽ giúp bảo vệ quyền lợi công nhân hiệu quả hơn. Tương lai của công tác này phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và cộng đồng.

5.1. Định Hướng Phát Triển Trong Tương Lai

Cần có các chính sách và chiến lược rõ ràng để phát triển công tác truyền thông về quyền lợi công nhân. Điều này bao gồm việc đào tạo đội ngũ làm truyền thông và nâng cao nhận thức của công chúng.

5.2. Vai Trò Của Công Đoàn Trong Bảo Vệ Quyền Lợi

Công đoàn cần đóng vai trò tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền lợi công nhân, không chỉ thông qua các hoạt động truyền thông mà còn trong việc giám sát và thực thi các chính sách bảo vệ quyền lợi.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thông điệp về vấn đề bảo vệ quyền lợi công nhân trên sóng truyền hình địa phương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Thông điệp về vấn đề bảo vệ quyền lợi công nhân trên sóng truyền hình địa phương - một số vấn đề lí luận Chương 2: Thực trạng và đánh giá thông điệp về vấn đề bảo vệ quyền lợi công nhân trên sóng truyền hình địa phương Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng thông điệp về vấn đề bảo vệ quyền lợi công nhân trên sóng truyền hình địa phương 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THÔNG ĐIỆP VÀ THÔNG ĐIỆP VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CÔNG NHÂN TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Thông điệp Thông điệp là một hệ thống các kí hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể.

Hệ thống các kí hiệu này được quy ước giữa đầu phát và đầu nhận, nói cách khác kí hiệu này phải được giải mã bởi đầu nhận. Hệ thống các kí hiệu ấy có thể là do lời nói (tiếng động và âm nhạc), chữ viết, đường nét, màu sắc, cử chỉ và thái độ, hành động. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên), “Thông điệp” được định nghĩa là: 1: Công văn ngoại giao quan trọng do nước này gửi cho một hay nhiều nước khác; 2: Báo cáo do tổng thống gửi cho quốc hội để trình bày tình hình và chính sách; 3: Bức thư công khai gửi cho mọi người hoặc một nhóm người nhất định (thường dùng với nghĩa bóng) [44, tr. Còn theo tác giả Nguyễn Lân trong giáo trình Phong cách học Tiếng Việt lại định nghĩa: “Thông điệp là một văn thư quan trọng của một chính phủ này gửi cho một chính phủ khác vì một vấn đề mà cả hai bên cần trao đổi ý kiến, thông điệp cũng chính là thông tin muốn chuyển tải từ một hành động, một sự kiện cụ thể muốn gửi đến các đối tượng có liên quan.

Thông điệp cũng là ý tưởng của một cá nhân (tổng thống) hay tổ chức tượng trưng” [31, tr. Trong Báo cáo tổng kết hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (năm 2005), các nhà truyền thông giáo dục sức khỏe cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ người truyền đến đối tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, hiểu biết, ý kiến, đòi hỏi, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật được mã hóa theo một kí hiệu nào đó. Hệ thống kí hiệu này phải được người truyền lẫn người nhận cùng chấp nhận và cùng có một cách hiểu ” [54, tr.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những khái niệm trên của tác giả mới chỉ tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ học, chính trị học hoặc những chuyên ngành khác chưa thật sát đúng với lý luận báo chí học. Theo tác giả, Thông điệp là nội dung cơ bản về một vấn đề nào đó được trình bày trong một hình thức ngắn gọn, súc tích, mà người truyền muốn chuyển đến người nhận nhằm thu hút sự quan tâm, ủng hộ và hành động của họ để đạt được mục tiêu mong muốn của những người, cơ quan, tổ chức thiết kế thông điệp. Thông điệp được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tình hình thức tế - thiết kế sản xuất – thử nghiệm và phát hành rộng rãi trong xã hội bằng mọi phương tiện để đạt được mục đích mong muốn của các nhà thiết kế đối với quảng đại quần chúng. Thông điệp phải đáp ứng nhu cầu của người nhận.

Đây là yêu cầu quan trọng đối với sự thành công của một thông điệp. Và về phía mình, người nhận sẽ có đáp ứng như nguồn phát mong muốn nếu nguồn phát đảm bảo được rằng, người nhận được lĩnh hội đúng thông tin nguồn phát muốn truyền. Quá trình xây dựng thông điệp bao gồm 2 giai đoạn khác nhau nhưng bổ sung cho nhau. Giai đoạn thức nhất đòi hỏi nguồn phát phải xác định đúng cái muốn truyền đạt để tạo ra đáp ứng thích hợp nơi người nhận.

Đây là ý tưởng thông điệp chủ định. Trong giai đoạn thứ hai cần phải xác định hình thức tốt nhất để truyền đạt thông điệp chủ định. Hình thức này được gọi là thông điệp mã hóa. Quyền lợi của công nhân 1.

Công nhân, Giai cấp công nhân Giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa hay còn được gọi là giai cấp vô sản. Trong tác phẩm Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản, Ph. Ăngghen định nghĩa: “Giai cấp vô sản là một giai cấp hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán laa động của mình, chứ không phải sông bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn nổi ” [32, tr. Tuy vậy, không chính xác khi gọi giai cấp vô sản là giai cấp công 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình độ lao động công nghiệp cao, là đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại. “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh của giai cấp vô sản hiện đại” [32, tr. Trong giai đoạn hiện nay, giai cấp công nhân đã có những biến đổi mới: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại,với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là người cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu snar xuất và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ” [4, tr.

Tại Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, tất cả những người không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, bất kỳ họ lao động trong công nghệ hay trong nông nghiệp, bất kỳ họ làm nghề gì, cũng đều thuộc giai cấp công nhân. Chủ chốt của giai cấp ấy, là những công nhân tại các xí nghiệp như nhà máy, hầm mỏ, xe lửa. Những công nhân thủ công nghệ, những người làm thuê ở các cửa hàng, những cố nông. cũng thuộc giai cấp công nhân.

Nhưng chỉ công nhân công nghệ là hoàn toàn đại biểu cho đặc thù của giai cấp công nhân [33, tr. Cũng theo Hồ Chí Minh, đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là kiên quyết, triệt để tập thể, có tổ chức, kỷ luật. Công nhân là giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất, có trách nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc, xây dựng một xã hội mới. Vì những lẽ đó, giai cấp công nhân có thể lĩnh hội và thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất: chủ nghĩa Mác – Lênin.

Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và làm gương cho các tầng lớp khác. Do đó, về mawtjchinhs trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo [33, tr. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ là tất yếu khách quan.

Đó là những vấn đề đã được các Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và X của Đảng khẳng định. Từ thực tiễn của đất nước và trên cơ sở định nghĩa về giai cấp công nhân hiện đại như đã nêu ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay như sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công, hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất; là giai cấp có xứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, lực lượng xã hội nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Như vậy, xét về tính chất lao động, người ta thường gọi lao động mang tính chất công nghiệp là công nhân. Xét ở địa vị xã hội, người ta gọi những người lao động công nghiệp là giai cấp công nhân.

Giai cấp công nhân bao gồm cả những người lao động trí óc và lao động chân tay. Lao động trí óc là những người được đào tạo có trình độ cao đẳng, đại học trở nên, thường giữ các cương vị quản lí, điều khiển trong các nhà máy, xí nghiệp, thường được gọi là công nhân “áo trắng” hay công nhân “cổ cồn”. Những người lao động chân tay trong các dây chuyền sản xuất, trực tiếp làm ra các sản phẩm công nghiệp, thường được gọi là công nhân “áo xanh” hay công nhân lao động. Quyền lợi của công nhân Quyền lợi của công nhân, một mặt, là một quyền cơ bản của nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; mặt khác, lại là quyền mang tính hạt nhân đối với quyền con người nói chung.

Điều 23 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người: “Mọi người có quyền làm việc”. Điều 6 Công ước quốc tế và các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa: “Các quốc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia thành viên thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc mà họ tự do lựa chọn hoặc chấp thuận”. Điều 7 Công ước đòi hỏi các quốc gia phải “công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ