Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ. Chương 2: Quy định của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm nhân thọ và kiến nghị hoàn thiện. CHƢƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM TRONG BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 1.
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ là một loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận giữa bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm (BMBH)1. Nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm nhân thọ được thực hiện thông qua cơ chế hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) và BMBH. Theo khoản 1 Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (gọi tắt là Luật KDBH): “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Hợp đồng bảo hiểm được phân thành ba loại gồm hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự2.
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) thuộc loại hợp đồng bảo hiểm con người bởi đối tượng được bảo hiểm của HĐBHNT là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và sự an toàn của con người3. Pháp luật Việt Nam thực định chưa có một định nghĩa, khái niệm nào về HĐBHNT hay hợp đồng bảo hiểm con người, để đưa ra khái niệm về HĐBHNT, cần xem xét những đặc trưng cơ bản của loại hợp đồng này. Cụ thể: 1 Lê Thị Ngân Hà (2019), “Quy định pháp luật về quan hệ giữa bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”, Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, Tài liệu hội thảo, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, trang 31.
2 Khoản 2 Điều 12 Luật KDBH. 3 Trần Linh Huân (2019), “Bất cập về nội dung, hình thức hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và một số kiến nghị hoàn thiện”, Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, Tài liệu hội thảo, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, trang 84-85. 7 Thứ nhất, đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là tuổi thọ và tính mạng của con người.
Theo quy định của Luật KDBH, đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người4. Trong đó, đối tượng bảo hiểm của HĐBHNT là tuổi thọ và tính mạng của người được bảo hiểm. Đây là đặc điểm quan trọng và có ý nghĩa chi phối các đặc điểm khác. Tuổi thọ của con người được thể hiện ra từ khi sinh ra cho đến khi chết của người đó.
Tuổi bảo hiểm là tuổi của người được bảo hiểm vào ngày có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tính theo lần sinh nhật vừa qua gần nhất. Căn cứ vào độ tuổi của người được bảo hiểm, DNBH sẽ xác định xem người đó có thuộc nhóm tuổi tham gia bảo hiểm hay không cũng như tính toán mức phí bảo hiểm. Về lý thuyết, mức độ rủi ro sẽ khác nhau nếu người được bảo hiểm có độ tuổi khác nhau, điều này được thể hiện trong Bảng tỷ lệ tử vong COS 1980 ban hành kèm theo Thông tư số 125/2012/TT-BTC ngày 30/07/2012 của Bộ Tài Chính. Độ tuổi có tỷ lệ tử vong cao thì mức phí đóng bảo hiểm cũng cao hơn so độ tuổi có tỷ lệ tử vong thấp.
Tùy vào từng loại hình bảo hiểm cũng như quyền lợi bảo hiểm cho người được bảo hiểm, khi thiết kế hợp đồng bảo hiểm, DNBH sẽ tính toán và quy định độ tuổi tối thiếu và tối đa của người được bảo hiểm. Chính vì vậy trong HĐBHNT, nghĩa vụ khai báo đúng tuổi của người được bảo hiểm là rất quan trọng. Nếu DNBH phát hiện tuổi của người được bảo hiểm đã kê khai trong hồ sơ bảo hiểm không đúng với tuổi thực tế, DNBH có quyền xác minh lại đúng tuổi của người được bảo hiểm và tính lại mức phí bảo hiểm. Do độ tuổi của người được bảo hiểm là yếu tố chi phối đến quyền và nghĩa vụ của các bên nên Điều 34 Luật KDBH đã quy định khá chi tiết về quyền của DNBH và nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
Nếu BMBH thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm thì tùy từng trường hợp, DNBH có thể lựa chọn: - Trong trường hợp tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì DNBH có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho BMBH sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan. Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì DNBH phải trả cho BMBH giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm. 4 Khoản 1 Điều 31 Luật KDBH. 8 - Trong trường hợp BMBH thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì DNBH có quyền: Yêu cầu BMBH đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc giảm số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng.
- Trong trường hợp BMBH thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì DNBH phải hoàn trả cho BMBH số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng. Ngoài ra, tuổi thọ của con người còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như sức khỏe, bệnh tật, nếp sinh hoạt, gen di truyền, … Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các bên thì HĐBHNT thường được quy định rất chi tiết, mà nguyên nhân chủ yếu là do tính phức tạp của đối tượng bảo hiểm tạo ra. Như vậy, có thể nói, tuổi thọ, tính mạng của người được bảo hiểm là đối tượng của HĐBHNT, là yếu tố làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của DNBH và BMBH trong HĐBHNT. Thứ hai, trong HĐBHNT, sự kiện bảo hiểm có thể gắn liền với yếu tố rủi ro và/hoặc sự tích lũy.
Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người được thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm tài sản, mục đích mà BMBH hướng tới là bảo vệ quyền lợi tài chính đối với đối tượng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Đối tượng của hai loại hình bảo hiểm này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được bảo hiểm và lợi ích tài chính của người mua bảo hiểm đối với tài sản bảo hiểm. Vì đối tượng bảo hiểm đều là những yếu tố tính toán được về mặt giá trị nên bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm tài sản là bảo hiểm thiệt hại đơn thuần.
Đối với các loại hình bảo hiểm này, DNBH chỉ phải trả tiền bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Để được nhận tiền bảo hiểm, người được bảo hiểm phải chứng minh có thiệt hại xảy ra và họ phải gánh chịu những thiệt hại này. Trong HĐBHNT, đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng con người, là những yếu tố tự nhiên thuộc về bản thân mỗi con người mà DNBH không thể nào 9 định giá được. Chính vì vậy, mục đích mà BMBH hướng đến không chỉ là lợi ích về mặt tài chính mà còn là những quyền lợi có được từ sự tồn tại của một con người thông qua việc đầu tư, tích lũy một khoản tài chính cho mình hoặc cho những người thân.
Xuất phát từ đặc thù này mà pháp luật cho phép DNBH thiết kế sản phẩm bảo hiểm nhân thọ kết hợp cả hai yếu tố rủi ro và tích lũy. Cụ thể, Điều 3 Luật KDBH quy định bảo hiểm nhân thọ có nhiều loại hình như bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm trả tiền định kỳ,…Trong đó, đối với loại hình bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm hỗn hợp và bảo hiểm trả tiền định kỳ, DNBH phải trả tiền bảo hiểm cả trong trường hợp xảy ra rủi ro dẫn đến chết người đối với người được bảo hiểm và trường hợp hết thời hạn bảo hiểm, dù không có sự kiện bảo hiểm xảy ra nhưng BMBH đã tích lũy đủ số tiền bảo hiểm thông qua việc đóng phí bảo hiểm. Ví dụ: sản phẩm bảo hiểm nhân thọ An Bình Thịnh Vượng của Tổng Công ty Bảo Việt Nhân Thọ đảm bảo quyền lợi bảo hiểm khi người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn hợp đồng với số tiền bằng 100%, 200%, thậm chí 400% số tiền bảo hiểm tùy từng trường hợp. Tính tích lũy của sản phẩm bảo hiểm này được thể hiện ở việc khi hợp đồng đáo hạn, Bảo Việt sẽ chi trả một khoản tiền bằng 100% hoặc 200% số tiền bảo hiểm.
Đây là một sản phẩm vừa mang tính tích lũy vừa mang tính bảo hiểm rủi ro5. Như vậy, trong HĐBHNT, ngoài sự kiện bảo hiểm làm phát sinh trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của DNBH là người được bảo hiểm gặp rủi ro, trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của DNBH còn phát sinh trong một số trường hợp khác như HĐBHNT hết thời hạn hay việc DNBH trả giá trị hoàn lại đối với các hợp đồng bảo hiểm có tính tích lũy. Thứ ba, HĐBHNT là loại hợp đồng dài hạn. HĐBHNT thường có thời hạn rất dài, có thể là năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc có thể kéo dài trọn đời.
Tính dài hạn của HĐBHNT xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc đầu tư tài chính bằng quỹ bảo hiểm nhàn rỗi.