Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và giải quyết việc làm quốc gia. Từ giai đoạn khởi đầu những năm 1980 đến 1989 hợp tác với các nước Đông Âu thu về hơn 800 tỷ đồng và 300 triệu USD, hoạt động này đã mở rộng mạnh mẽ ra quy mô toàn cầu. Theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước, hàng năm có khoảng 80.000 đến hơn 120.000 lao động xuất cảnh. Riêng năm 2016, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài đạt 126.296 người, trong đó lao động nữ đạt 46.029 người, chiếm tỷ trọng 36,45%. Nguồn kiều hối chuyển về nước năm 2016 đạt trên 13 tỷ USD, tương đương 6,7% GDP, đưa Việt Nam vào nhóm 11 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh nhiều thách thức lớn khi lao động nữ di trú là nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất trước các rủi ro về lừa đảo, bóc lột sức lao động, quấy rối và xâm phạm tình dục. Hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 và Bộ luật Lao động năm 2012, chủ yếu tiếp cận dưới góc độ quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ kinh tế, chưa xây dựng cơ chế bảo hộ quyền con người đặc thù cho phụ nữ làm việc xa xứ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ nền tảng lý luận, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2012 đến 2017, so sánh với các chuẩn mực quốc tế của Liên Hợp Quốc và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ toàn diện quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quyền con người của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, khẳng định phụ nữ di cư có các quyền tự nhiên vốn có cần được thừa nhận và bảo vệ đặc thù. Đồng thời, luận văn áp dụng lý thuyết bình đẳng giới thực chất (de facto equality) theo tinh thần Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW) và Khuyến nghị chung số 26 năm 2008 của Ủy ban CEDAW. Lý thuyết này chỉ rõ việc ban hành quy định pháp luật bình đẳng hình thức là chưa đủ, mà cần thiết lập các quy chế bảo hộ riêng biệt để bù đắp những bất lợi sinh học và xã hội của lao động nữ.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp mô hình phòng chống tội phạm 3P (Prevention - Ngăn chặn, Prosecution - Truy tố, Protection - Bảo vệ) từ Nghị định thư Palermo năm 2000 nhằm bảo vệ lao động nữ trước nguy cơ buôn bán người và cưỡng bức lao động. Khung phân tích làm rõ 4 khái niệm trung tâm:

  • Lao động di trú theo Điều 2 Công ước ICRMW năm 1990;
  • Lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo Điều 3 Luật năm 2006;
  • Sự phân biệt đối xử kép dựa trên giới tính và tư cách phi công dân;
  • Nguyên tắc đối xử quốc gia và trả công bình đẳng theo Công ước ILO số 100 và Công ước ILO số 111.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong giai đoạn 2012 đến 2016, cùng các báo cáo của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM với quy mô 244 triệu người di cư toàn cầu năm 2015) và Ngân hàng Thế giới (ghi nhận dòng kiều hối toàn cầu 575 tỷ USD năm 2016).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu khảo sát tổng thể trên bộ dữ liệu xấp xỉ 350.000 lượt lao động giai đoạn 2014 đến 2016, trong đó đi sâu phân tích mẫu điển hình gồm 126.296 lao động xuất cảnh năm 2016 tại 24 quốc gia và vùng lãnh thổ. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để tập trung vào 3 thị trường trọng điểm tiếp nhận hơn 92% lao động Việt Nam: Đài Loan (68.244 người), Nhật Bản (39.938 người) và Hàn Quốc (8.482 người).

Về phương pháp phân tích: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích quy phạm luật học, thống kê mô tả và phương pháp so sánh luật học (Comparative Law). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đối chiếu mức độ tương thích giữa pháp luật nội địa với các điều ước quốc tế của Liên Hợp Quốc và ILO, từ đó xác định chính xác các khoảng trống lập pháp để đưa ra khuyến nghị nội luật hóa chuẩn xác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề của lao động nữ di trú mang tính rủi ro cao và trình độ chuyên môn còn hạn chế. Khoảng 80% lao động nữ tập trung vào các công việc chăm sóc cá nhân, giúp việc gia đình tại tư gia hoặc công nhân may mặc, gia công điện tử. Đa số lao động có độ tuổi trẻ từ 20 đến 39 tuổi, xuất thân từ khu vực nông thôn, học vấn phổ thông và thiếu hụt kỹ năng pháp lý cũng như ngoại ngữ, tạo ra sự phụ thuộc lớn vào người sử dụng lao động.

Thứ hai, có sự phân hóa sâu sắc về thu nhập, điều kiện làm việc và chi phí xuất cảnh giữa các thị trường:

  • Thị trường Đài Loan tiếp nhận đông lao động nữ nhất với 68.244 người năm 2016, thời gian đào tạo xuất cảnh nhanh từ 2 đến 4 tháng, mức lương cơ bản được điều chỉnh từ ngày 01/07/2015 đạt 20.008 Đài tệ/tháng (khoảng 14 triệu đồng, tương đương 650 USD/tháng), cộng thu nhập làm thêm khoảng 200 USD/tháng.
  • Thị trường Hàn Quốc tiếp nhận 8.482 lao động theo chương trình phi lợi nhuận với chi phí chỉ khoảng 700 USD, mang lại mức thu nhập bình quân trên 1.000 USD/tháng và 250 USD thu nhập ngoài giờ, trong đó khoảng 87% lao động làm việc trong các nhà máy sản xuất.
  • Thị trường Nhật Bản tiếp nhận 39.938 lao động với mức thu nhập cao từ 20 đến 40 triệu đồng/tháng (khoảng 1.400 USD/tháng), chế độ an sinh tốt nhưng quy trình tuyển chọn rất khắt khe với thời gian đào tạo từ 8 đến 10 tháng.

Thứ ba, tồn tại khoảng trống pháp lý nghiêm trọng trong việc bảo vệ quyền lao động nữ. Luật năm 2006 chưa có quy định riêng về bình đẳng giới và phòng chống xâm hại tình dục. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước CEDAW năm 1982, Công ước ILO số 100 và 111 vào ngày 07/10/1997, nhưng chưa phê chuẩn Công ước ICRMW năm 1990 (đã có 51 quốc gia tham gia tính đến tháng 5/2017) cũng như Công ước ILO số 97 và 143.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tích cho thấy nguyên nhân cốt lõi khiến lao động nữ dễ bị xâm phạm quyền lợi bắt nguồn từ sự phân biệt đối xử kép: họ vừa chịu vị thế bất lợi của người lao động ngoại quốc, vừa chịu định kiến giới khi làm những công việc biệt lập tại gia đình không chịu sự thanh tra lao động thông thường. Hạn chế về thẩm quyền tài phán theo lãnh thổ khiến quốc gia phái cử gặp khó khăn lớn trong việc can thiệp bảo hộ trực tiếp khi quyền lợi của lao động bị vi phạm tại nước sở tại.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế và Khuyến nghị chung số 26 của Ủy ban CEDAW, những phát hiện của luận văn hoàn toàn đồng nhất khi chỉ ra rằng việc thiếu các thỏa thuận song phương có ràng buộc pháp lý chặt chẽ là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khấu trừ lương, giữ hộ chiếu trái phép và làm việc quá giờ mà không được bảo vệ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 36,45% lao động nữ trên tổng số 126.296 người xuất cảnh, kết hợp bảng ma trận so sánh đa tiêu chí giữa 3 thị trường Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc về mức thu nhập hàng tháng (dao động từ 650 USD đến 1.400 USD), chi phí trước khi đi (từ 700 USD đến hàng nghìn USD) và mức độ bảo đảm quyền an sinh xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, sửa đổi và bổ sung Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006. Quốc hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp xây dựng một chương riêng biệt về bảo vệ quyền của lao động nữ, luật hóa các quy định nghiêm cấm hành vi quấy rối tình dục, bóc lột sức lao động và phân biệt đối xử giới. Mục tiêu là 100% hợp đồng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài phải chứa các điều khoản bảo vệ giới rõ ràng trong giai đoạn 2018 đến 2020.

Thứ hai, thiết lập lộ trình gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về lao động di trú. Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp tiến hành rà soát mức độ tương thích pháp lý để trình cấp có thẩm quyền phê chuẩn Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (ICRMW năm 1990), cùng Công ước ILO số 97 và 143 trong giai đoạn 2020 đến 2025.

Thứ ba, đổi mới và chuẩn hóa chương trình giáo dục định hướng tiền xuất cảnh. Các doanh nghiệp dịch vụ phái cử lao động cần nâng thời lượng đào tạo từ 2 tháng lên 4 đến 6 tháng đối với các thị trường đặc thù, tích hợp các kỹ năng tự bảo vệ, nhận biết bạo lực giới, chăm sóc sức khỏe sinh sản và kiến thức pháp luật của nước tiếp nhận. Chỉ tiêu đặt ra là 100% lao động nữ phải đạt chứng chỉ an toàn pháp lý trước khi xuất cảnh từ năm 2018.

Thứ tư, tăng cường năng lực và cơ chế hỗ trợ khẩn cấp tại các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban Quản lý lao động tại Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc thiết lập đường dây nóng bảo hộ công dân 24/7 và quỹ trợ giúp pháp lý khẩn cấp. Mục tiêu đặt ra là tiếp nhận và xử lý 100% các khiếu nại, phản ánh vi phạm quyền của lao động nữ trong vòng 48 giờ kể từ khi nhận được thông tin trong giai đoạn 2018 đến 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước, Ủy ban Xã hội của Quốc hội). Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và cơ sở pháp lý vững chắc để phục vụ việc tổng kết 10 năm thi hành Luật năm 2006 và soạn thảo văn bản luật sửa đổi, bảo đảm quản lý hiệu quả hơn 120.000 lao động di cư hàng năm.

Nhóm 2: Các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (hơn 300 doanh nghiệp được cấp phép trên cả nước). Luận văn là cẩm nang hữu ích giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình ký kết hợp đồng 3 bên, thiết kế giáo trình đào tạo định hướng từ 2 đến 4 tháng và xây dựng cơ chế quản lý rủi ro cho lao động nữ tại nước ngoài.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Quốc tế, Quyền con người và Quan hệ quốc tế. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên sâu về việc áp dụng 8 công ước cốt lõi của ILO và các cơ chế giám sát thực thi công ước nhân quyền của Liên Hợp Quốc.

Nhóm 4: Các tổ chức xã hội, bảo vệ quyền phụ nữ và công đoàn (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, UN Women, ILO). Tài liệu cung cấp số liệu thực chứng để triển khai các dự án can thiệp cộng đồng, hỗ trợ pháp lý và thúc đẩy bình đẳng giới cho hơn 46.000 lao động nữ xuất cảnh mỗi năm.

Câu hỏi thường gặp

Lao động nữ làm việc ở nước ngoài phải đối mặt với những nguy cơ đặc thù nào? Lao động nữ thường phải đối mặt với nguy cơ phân biệt đối xử kép về giới và quốc tịch. Do khoảng 80% tập trung làm giúp việc gia đình hoặc hộ lý tại tư gia, họ bị cô lập, dễ bị thu giữ hộ chiếu trái phép, làm việc quá 12 giờ mỗi ngày mà không có ngày nghỉ và đối mặt với nguy cơ cao bị bạo lực hoặc xâm hại tình dục.

Công ước CEDAW và Khuyến nghị chung số 26 bảo vệ quyền lao động nữ di trú như thế nào? Công ước CEDAW năm 1979 cùng Khuyến nghị chung số 26 năm 2008 bắt buộc các quốc gia thành viên xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ di cư trong cả 3 giai đoạn: trước xuất cảnh, tại nước đến và khi hồi hương. Khuyến nghị yêu cầu các nước bảo đảm bình đẳng thực chất về thù lao, an toàn lao động và quyền tiếp cận cơ quan tài phán.

Mức thu nhập của lao động Việt Nam phân hóa ra sao giữa các thị trường tiếp nhận? Mức thu nhập có sự chênh lệch lớn giữa các thị trường: tại Malaysia đạt khoảng 300 USD/tháng, Đài Loan đạt mức lương cơ bản khoảng 650 USD/tháng (tương đương 14 triệu đồng), Hàn Quốc đạt trên 1.000 USD/tháng, Nhật Bản đạt từ 1.400 USD/tháng (khoảng 20 đến 40 triệu đồng) và cao nhất là thị trường Úc đạt trên 4.000 USD/tháng.

Việt Nam đã phê chuẩn những điều ước quốc tế cốt lõi nào về bảo vệ quyền lao động? Việt Nam đã phê chuẩn Công ước CEDAW năm 1982, Công ước ILO số 100 về trả lương bình đẳng và Công ước ILO số 111 về chống phân biệt đối xử vào ngày 07/10/1997. Tuy nhiên, Việt Nam chưa tham gia Công ước ICRMW năm 1990 (đã có 51 quốc gia thành viên) cũng như Công ước ILO số 97 và 143.

Bất cập lớn nhất của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 2006 là gì? Bất cập lớn nhất là luật năm 2006 tập trung điều chỉnh quan hệ thương mại dịch vụ phái cử hơn là thiết lập cơ chế bảo hộ quyền con người cho người lao động. Khung pháp lý thiếu vắng các quy định chuyên biệt về bảo vệ phụ nữ trước bạo lực giới, quấy rối tình dục và chăm sóc thai sản khi làm việc ở nước ngoài.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền của lao động nữ di trú dưới lăng kính pháp luật quốc tế và các chuẩn mực CEDAW, ILO.
  • Đánh giá thực trạng quy mô 350.000 lao động giai đoạn 2014 đến 2016, làm rõ đặc thù 36,45% lao động nữ tại 3 thị trường trọng điểm Đông Bắc Á.
  • Phân tích sâu sắc các bất cập của Luật năm 2006 và chỉ ra sự thiếu hụt cơ chế bảo hộ ngoài lãnh thổ đối với nạn phân biệt đối xử kép.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược gắn liền với việc sửa đổi luật nội địa, mở rộng thời gian đào tạo định hướng lên 4 đến 6 tháng.
  • Xác định lộ trình phê chuẩn Công ước ICRMW năm 1990 và tăng cường mạng lưới bảo hộ khẩn cấp 24/7 của các cơ quan ngoại giao.

Về định hướng tiếp theo, các cơ quan hữu quan cần tập trung hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi giai đoạn 2018 đến 2020 và tiến hành đánh giá tác động điều ước quốc tế giai đoạn 2020 đến 2025. Các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và tổ chức xã hội hãy chủ động tham khảo luận văn để chung tay xây dựng hành lang pháp lý an toàn, bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi chính đáng cho hàng vạn phụ nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.