Chương 1: Tổng quan về lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Chương 3: Thực trạng thực thi pháp luật và một số giải pháp nhằm bảo vệ quyền của lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ LAO ĐỘNG NỮ VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 1. Khái quát chung về hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng 1.
Khái niệm và một số thuật ngữ Thuật ngữ “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” được sử dụng chính thức lần đầu tiên trong Nghị định số 370/HĐBT ngày 09/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành quy chế về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Sau đó, Bộ luật lao động năm 1994 được ban hành đã sử dụng thuật ngữ “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” và được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. Hiện nay trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006, hai thuật ngữ chính thức được sử dụng song song là “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” và “xuất khẩu lao động”. Theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 và các văn bản hướng dẫn, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hiểu là hoạt động cá nhân tự đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân hoặc là hoạt động được tiến hành bởi các doanh nghiệp, tổ chức nhằm đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc trên cơ sở sự thỏa thuận bằng văn bản giữa người lao động và các doanh nghiệp, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam.
Kết quả của hoạt động này là các quan hệ lao động được hình thành giữa người lao động Việt Nam và doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài là người sử dụng lao động theo hợp đồng lao động giữa các bên. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về việc sử dụng thuật ngữ “xuất khẩu lao động”, trong một số văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã sử dụng thuật ngữ này để thay thế cho thuật ngữ “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Mặc dù về mặt bản chất, sức lao động cũng được xem như một loại hàng hóa, tuy nhiên đây không phải là một loại hàng hóa thông thường mà đó là tài sản vô hình tồn tại bên trong người lao động và gắn liền với nhân thân, vì thế nên việc dùng cụm từ “xuất khẩu” có hàm ý coi sức lao động như một loại hàng hóa thông thường có thể vận chuyển được dường như chưa phù hợp. Hơn nữa, cả cụm từ “xuất khẩu lao động” rất dễ gây hiểu lầm rằng người lao động chính là hàng hóa có thể xuất khẩu được.
Vì vậy, có lẽ trong các văn bản pháp luật chỉ nên sử dụng thuật ngữ “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” để có thể phù hợp và làm rõ bản chất của hoạt động này. Ở cấp độ quốc tế, thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia khác là “lao động di cư” hoặc “lao động di trú” (migrant workers). Hai khái niệm “di trú” và “di cư” không có sự phân biệt rõ ràng, đều được dịch từ thuật ngữ “Migrant worker” nhưng khi dịch sang tiếng Việt có hai cách dịch khác nhau. Điều 2 của Công ước quốc tế về bảo vệ người lao động di trú và thành viên gia đình của họ (ICRMW) định nghĩa: Người lao động di trú là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân.
Có thể hiểu thuật ngữ này dùng để chỉ tình trạng người lao động từ nước này sang nước khác làm việc trong một thời gian nhất định, những người lao động di trú thường không có ý định ở lại lâu dài tại quốc gia hoặc vùng nơi họ làm việc và thuật ngữ này không bao hàm người lao động đến làm việc ở một nơi khác vẫn thuộc nước mà người đó là công dân bởi người lao động di chuyển để làm việc trong phạm vi một quốc gia là vấn đề mang 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính nội bộ của quốc gia đó nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước. “Lao động di trú” mang tính đa dạng, bao gồm cả hình thức đi làm việc ở nước ngoài một cách hợp pháp thông qua hợp đồng với các doanh nghiệp, tổ chức và hình thức bất hợp pháp như vượt biên bằng đường bộ, đường thủy ra nước ngoài làm việc hoặc đi du lịch để tìm cách trốn ở lại. Trong phạm vi của luận văn này, thuật ngữ “lao động di trú” và “lao động nữ di trú” (women migrant workers) cũng được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “lao động đi làm việc ở nước ngoài” và “lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài” trong một số tình huống nhất định. Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một quy trình gồm nhiều giai đoạn, nhiều chủ thể khác nhau tham gia bao gồm: a) Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; b) Doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ; c) Cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động.
Trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thì hoạt động dịch vụ do các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp thực hiện là chủ yếu. Hoạt động này bắt đầu từ khi chủ thể làm dịch vụ đưa người lao động đi nước ngoài tiến hành các hoạt động tuyển dụng lao động Việt Nam để giới thiệu cho các đối tác nước ngoài đang có nhu cầu sử dụng lao động. Sau, đó chủ thể làm dịch vụ đưa người lao động đi nước ngoài sẽ tổ chức các hoạt động đào tạo hoặc dạy nghề cho người lao động để họ có được những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Đồng thời, chủ thể làm dịch vụ đưa lao động đi nước ngoài cũng phải tiến hành các thủ tục cần thiết để người lao động có thể xuất cảnh khỏi Việt Nam và nhập cảnh vào nước tiếp nhận lao động.
Cuối cùng, sau khi người lao động đã chấm dứt việc thực hiện hợp đồng lao động tại nước ngoài thì họ sẽ quay trở về Việt Nam. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Thứ nhất, quan hệ phát sinh trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một loại quan hệ phát sinh trong lĩnh vực lao động, vì vậy nó được điều chỉnh bởi pháp luật lao động. Bên cạnh đó, hoạt động này còn chịu sự điều chỉnh của luật dân sự (về hợp đồng, bảo lãnh, tiền ký quỹ,.), luật hành chính (về vấn đề xuất, nhập cảnh, xử lý vi phạm hành chính), luật hình sự (đối với các vi phạm hình sự), luật tố tụng dân sự (đối với vấn đề giải quyết tranh chấp),.
Thứ hai, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động mang tính chất kinh tế - xã hội. Trước hết, đây là một hoạt động mang tính chất kinh tế vì đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết vấn đề lao động của nước phái cử cũng như nước tiếp nhận lao động, làm tăng nguồn ngoại tệ và mang đến nhiều lợi ích kinh tế khác, hoạt động này chịu sự điều tiết và ảnh hưởng của các quy luật kinh tế thị trường. Đồng thời hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng là hoạt động liên quan trực tiếp đến người lao động nên cũng gắn liền với cuộc sống của họ. Do vậy, các chính sách của pháp luật trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải kết hợp với chính sách xã hội để có thể bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Thứ ba, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không thể tách rời lợi ích của Nhà nước. Trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài thì lợi ích của người lao động chính là các khoản thu nhập, còn đối với các doanh nghiệp là khoản thu được từ các hoạt động dịch vụ. Ngoài lợi ích trực tiếp đối với người lao động và doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì lợi ích của Nhà nước 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng cần được tính đến, thể hiện ở khoản ngoại tệ mà người lao động gửi về nước cũng như thuế thu nhập. Vì vậy nên các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này cần phải đảm bảo sự hợp lý và hài hòa về lợi ích giữa các bên.
Vai trò của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Đối với người lao động, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động mang lại lợi ích kinh tế cho chính bản thân người lao động, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho bản thân và gia đình của họ, thu nhập của lao động làm việc ở nước ngoài thường cao hơn nhiều lần so với lao động bình thường trong nước, số tiền tiết kiệm được sau vài năm làm việc là một con số không nhỏ. Đối với các doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, đây là một hoạt động kinh doanh thuần tuý nên lợi ích mà họ đạt được là các khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động này. Đối với Nhà nước và xã hội, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài góp phần giải quyết việc làm, tăng nguồn ngoại tệ quốc gia và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và trẻ.