mở đầu cho hoạt động tố tụng tiếp theo là giai đoạn khởi tố VAHS. Giai đoạn này diễn ra rất nhanh chóng, do các cơ quan THTT tiến hành, mà đảm bảo cho vụ án và có thể là bị can bị khởi tố. Do vậy có thể rút ra khái niệm quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố VAHS đó là những quyền mà pháp luật TTHSu quy định cho người mà đã có quyết định khởi tố về hình sự cho đến khi vụ án được khởi tố xong được hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia vào giai đoạn khởi tố VAHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ý nghĩa và nội dung của bảo đảm thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 1.
Ý nghĩa của bảo đảm thực hiện quyền của bị can trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Quy định quyền của một chủ thể trong pháp luật TTHS giúp phân biệt chủ thể này với chủ thể khác, đồng thời xác định vị trí và tầm quan trọng của chủ thể đó trong mối quan hệ pháp luật và có ý nghĩa quan trọng về cả chính trị, xã hội và pháp lý. Về phương diện chính trị - xã hội việc quy định địa vị pháp lý của bị can trong TTHS làm thể hiện rõ mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, giữa bị cáo với cơ quan THTT và người tiến hành tốt tụng. Công dân được Nhà nước quy định cho những quyền cụ thể trong pháp luật; Nhà nước phải bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền đó trong khuôn khổ luật định, đồng thời pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ cơ tương ứng mà công dân phải thực hiện để bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội. 17 Hoạt động TTHS thể hiện các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất, chính vì vậy hoạt động này rất dễ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng.
Tuy nhiên, trong số các chủ thể tham gia tố tụng thì vấn đề bảo đảm quyền của bị can có tầm quan trọng đặc biệt và vô cùng nhạy cảm. Sự nhạy cảm ở đây thể hiện ở chỗ: bị can là một chủ thể đặc biệt, họ có thể bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết, có thể bị tước đoạt một số quyền công dân để phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Với vị trí tố tụng như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của họ rất dễ bị người THTT vô tình hoặc cố ý xâm hại bởi hoạt động tố tụng không đúng quy định của pháp luật thì quyền và lợi ích hợp pháp của bị can sẽ bị xâm phạm. Vì vậy, việc quy định địa vị pháp lý của bị can trong TTHS có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết.
Bị can với việc là người yếu thế trong quan hệ TTHS có quyền yêu cầu cơ quan THTT, người THTT bảo đảm cho họ các quyền và lợi ích chính đáng. Cơ quan THTT có quyền yêu cầu, buộc bị cáo phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật TTHS, đồng thời phải có trách nhiệm, nghĩa vụ để bảo đảm việc thực hiện quyền của bị can. Bị cáo được quy định cho những quyền nhất định nhằm bảo vệ bản thân trước những bất lợi trong quá trình xét xử và tìm ra sự thật vụ án. Bên cạnh đó, bị can cũng phải thực hiện những nghĩa vụ được quy định để việc giải quyết vụ án có hiệu quả và thuận lợi, nhanh chóng.
Việc BLTTHS quy định cho bị cáo các quyền và nghĩa vụ giúp họ ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời cũng để tránh sự vi phạm quyền và lợi ích của bị cáo từ những chủ thể khác. Quyền con người trong TTHS nói chung, quyền con người của bị can nói riêng là quyền dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương nhất. Do đó, quy định địa vị pháp lý của bị can trong TTHS mà đặc biệt là quy định về quyền của bị can là sự cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Văn kiện quốc tế, trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện đúng tinh thần của Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số 18 nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nước ta đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế của pháp luật trong xã hội; vì thế những quy định cụ thể, rõ ràng, dân chủ, tiến bộ thì pháp luật sẽ dễ dàng phát huy vị thế, được nhân dân tiếp thu và thực hiện một cách nghiêm túc.
Pháp luật có tính răn đe, vì vậy pháp luật không chỉ tác động tới hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật mà còn tác động về tư tưởng đối với toàn xã hội nói chung, sự tác động mang tính chất giáo dục. Ý nghĩa pháp lý là phương tiện quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, các quan hệ pháp luật nói riêng. Pháp luật tác động lên các quan hệ đó bằng cách quy định cho các bên tham gia các quan hệ một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, đồng thời pháp luật cũng thiết lập cả điều kiện để bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được thực hiện. Cho nên, khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể cần biết rõ hoặc được cơn quan THTT, người THTT thông báo các quyền và nghĩa vụ của mình để tự mình thực hiện các hành vi hợp pháp nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân, không vượt quá các quyền của mình, cũng như biết được những nghĩa vụ mà bản thân cần phải thực hiện.
Bị can là người tham gia tố tụng, có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết VAHS. Họ là đối tượng bị pháp luật coi là những người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì vậy họ dễ bị xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, việc pháp luật quy định rõ địa vị pháp lý của bị can có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng, công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng NNPQ nói chung. Trên cơ sở quy định đầy đủ, cụ thể quyền và nghĩa vụ của bị can, Bộ luật sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho bị can xác định được phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, giúp họ có thể lựa chọn được cách xử sự phù hợp nhất, 19 có lợi cho bản thân và cho xã hội.
Về phía các cơ quan và người có thẩm quyền THTT, việc quy định rõ ràng, cụ thể quyền và nghĩa vụ của bị can cũng đặt trách nhiệm cao hơn với các cơ quan và người có thẩm quyền THTT trong việc bảo đảm quyền của bị can, đồng thời, có cơ chế pháp lý cụ thể để xử lý trong trường hợp bị can không chấp hành nghĩa vụ đã được luật định. Đồng thời, việc quy định địa vị pháp lý của bị can là cơ sở pháp luật để cơ quan THTT, người THTT xác định được quyền và nghĩa vụ của mình trong mỗi quan hệ pháp luật TTHS với bị can. Đây cũng là cơ sở để các chủ thể tham gia tố tụng khác biết được quyền và nghĩa vụ của bị can để có những hành vi phù hợp, tránh xâm phạm lợi ích của bị can. Nội dung pháp luật về quyền của bị can Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLTTHS năm 2015 thì “bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự” [52]; Bị can hay bị cáo chỉ là các tên gọi khác nhau của cùng một người khi ở các giai đoạn tố tụng khác nhau.
BLTTHS năm 2015 quy định về quyền của bị can (Khoản 2 Điều 60). * Quyền được biết lý do mình bị khởi tố Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì. Bị can cần phải biết tội danh mà họ bị khởi tố. Trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ tội danh, điều khoản luật được áp dụng đối với bị can.
Đây cũng chính là giai đoạn mở đầu của quá trình THTT và bắt đầu THTT để chứng minh hành vi bị nghi ngờ phạm một tội được quy định trong Luật Hình Sự. Trong vai trò đối lập với những lời buộc tội của cơ quan tiên hành tố tụng thì bi can cũng cần biết mình phạm tội gì để bảo vệ những quyền và lợi cích hợp pháp của mình; Những cũng từ đây thi bị can cũng có những nghĩa vụ nhất định để không bị cơ quan có thẩm quyền có quyền buộc tội và áp dụng các biện pháp ngăn chặn là một trong các biện pháp cưỡng chế TTHS được pháp luật TTHS quy định, do người có thẩm quyền THTT quyết định áp dụng đối với bị can nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ, không để họ tiếp tục phạm tội mới hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, hoặc nhằm bảo đảm việc thi hành án. 20 Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc, ảnh hưởng đến quyền tự do cá nhân và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng mục đích cuối cùng vẫn là đảm bảo việc xác định sự thật vụ án. Theo quy định tại điều 79, BLTTHS năm 2015 các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Đồng thời với căn cứ này giúp cho họ có thể đảm bảo được quyền bào chữa, phủ nhận việc buộc tội đó đối với họ. * Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ Pháp luật đã quy định trách nhiệm của người THTT khi áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người, tạm giữ và tạm giam đều phải giải thích cho đối tượng bị áp dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ.