Chương 1: Bảo vệ các nhóm yếu thế trong Quốc triều hình luật: Nhận diện từ khía cạnh lịch sử; Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi các nhóm yếu thế trong Quốc triều hình luật; Chương 3: Giá trị đương đại của pháp luật về bảo vệ quyền lợi các nhóm yếu thế trong Quốc triều hình luật và định hướng kế thừa các giá trị đó trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay; 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 Bảo vệ các Nhóm yếu thế trong Quốc triều hình luật: Nhận diện từ khía cạnh lịch sử 1.1 Bối cảnh lịch sử triều Hậu Lê Sau khi vua Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh xâm lược (năm 1427) giành lại độc lập cho dân tộc, thời kỳ đầu sau khi giành được độc lập là giai đoạn vô cùng khó khăn vì đất nước vừa trải qua chiến tranh, chịu đô hộ suốt hơn 20 năm khiến cho việc sản xuất bị ngưng trệ, nhân dân phiêu tan khắp nơi, ruộng đất bị bỏ hoang, kho tàng trống rỗng, xã hội mất ổn định, nền chính trị và pháp luật chưa thật sự đi vào khuôn khổ do nhiều ảnh hưởng trong thời kỳ nội thuộc nhà Minh để lại. Đứng trước vô vàn khó khăn sau ngày độc lập các vua Lê đã nhanh chóng bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước mà trọng tâm hàng đầu là khôi phục kinh tế nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp bằng việc ban hành ngay hàng loạt chính sách nhằm thúc đẩy nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân để tạo tiềm lực xây dựng lại đất nước. Chính quyền mới đã dồn mọi nguồn lực để tập trung xây dựng một nền chính trị, hệ thống pháp luật độc lập và tự chủ, xây dựng hệ thống chính quyền thống nhất trong cả nước đảm bảo đủ sức đương đầu với các sức ép tới từ chính quyền phương Bắc.1 Về Kinh tế 1.1 Tiểu nông hóa nền nông nghiệp, nông thôn Do tình hình chiến tranh kéo dài lên dẫn tới tình trạng một lượng lớn đất đai trong cả nước bị bỏ hoang, không có người canh tác, trong khi đó người nông dân 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để tránh chiến tranh phải phiêu tán khắp nơi, không có đất canh tác để sản xuất. Để khắc phục tình trạng ruộng đất hoang hóa và tập trung dân lưu tán không đất sản xuất trong cả nước chính quyền nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách có hiệu quả để khắc phục các tình trạng trên, trong đó phải kể đến việc Lê Thái Tổ cho làm sổ ruộng, sổ đinh để từ đó làm cơ sở kiểm soát đánh giá ruộng đất, nhân khẩu cả nước.
Mùa thu năm 1428 Lê Thái Tổ cho kiểm kê lại số ruộng đất của “các quan ty ngạch cũ, của các thế gia triều trước, của những người tuyệt tự, cùng ruộng đất và sản vật từng mùa của các ngụy quan của lính trốn”1, đến cuối năm đó lại có lệnh: “chỉ thị cho các phủ, huyện, lộ, trấn khám xét các bãi ruộng đất.cùng ruộng đất đã xung công của các thế gia và những người tuyệt tự và ruộng đất của những người đào ngũ”. Việc kiểm soát dân đinh được nhà Lê rất chú trọng thực hiện vì đây là nguồn nhân lực đảm bảo cho sản xuất, đảm bảo nhân lực cho quân đội, nếu ai vi phạm đều bị trị tội: Điều 285 QTHL quy định: “ Các xã quan làm sổ hộ khẩu mà khai bỏ sót số dân đinh, thì từ một người trở lên xử tội biếm; 6 người trở lên xử tội đồ; 15 người trở lên xử tội lưu, 20 người trở lên thì xử tội lưu đi châu xa là cùng. Những dân đinh xót lậu từ 15 tuổi trở lên, thì bắt làm lính ở bản phủ và truy thu tiền khóa dịch nộp vào kho; người chứa chấp phải chịu một nửa tiền khóa dịch…” Các đời vua tiếp nối vua Lê Thái Tổ cũng rất quan tâm tới nông nghiệp, coi nông nghiệp là “gốc rễ trong nước” cho nên nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách khuyến nông, đề cao phương châm: “ Bất vi nông thời – không làm trái thời vụ nhà nông” và “ Sử dân vĩ thời – Sai khiến dân thì phải chú ý tới nông vụ”. Ngay sau 1 Đại Việt sử ký toàn thư ( 2009), Nxb.
Văn học, Hà Nội, Tr. 296 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong thời kỳ còn đang phải đánh giặc Minh xâm lược vua Lê Lợi đã nghĩ tới việc ổn định nền nông nghiệp để làm kế lâu dài, trong Đại Việt sử ký có chép việc Lê Lợi ra lệnh: “Đợi khi phá được thành Đông Quan, sẽ cho 25 vạn người về làm ruộng, chỉ để lại 10 vạn làm quân để phòng việc nước2”, các vua Lê sau khi lên ngôi cũng noi gương Lê Thái Tổ đều rất chú trọng nông nghiệp, khi đến mùa vụ đều cho bớt quân dân phục dịch được về làm ruộng, như việc năm 1466 vua Lê Thánh Tông ra chỉ dụ: “ Đương mùa làm ruộng, các quân nhân ứng dịch ở thường ban thì cho ở lại túc trực và làm các việc giữu cửa, nhà, điếm, kiếm cỏ lợp nhà, cắt cỏ nuôi voi, còn những người ứng dịch ở các sảnh viên cục và các thợ bách tác thì lưu lại một nửa làm việc, còn thì cho về làm ruộng3” Nhà Lê đặc biệt quan tâm tới việc khai hoang mở đất trong nông nghiệp, nhiều làng xã đã được thành lập ở những vùng ven biển Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Đi kèm với việc khai hoang mở rộng diện tích canh tác, dưới thời vua Lê Thánh Tông đã cho đắp hệ thống đê biển để bảo vệ những diện tích đất mới khai phá này mang tên đê Hồng Đức: “Ở huyện Yên Mỗ, tỉnh Ninh Bình có đê đá từ phía Bắc của sông Thần Phù đến bờ Nam sông Càn và đê đất từ xã Côi Từ huyện Yên Mỗ đến xã Bồng Hải huyện Yên Khánh, tương truyền do Lê Thánh Tông sai đắp đê đề phòng nước mặn nên gọi là đê Hồng Đức”4. Pháp luật quy định cụ thể về việc đắp đê hằng năm, trách nhiệm của quan lại và quân dân khi không hoàn thành nhiệm vụ: “Việc sửa đê những sông lớn bắt đầu từ ngày mồng mười tháng 2 Đại Việt sử ký toàn thư ( 2009), Nxb.
Văn học, Hà Nội, Tr. 503 3 Đại Việt sử ký toàn thư ( 1972), Nxb. Khoa học xã hội, HN, 1972, Tập III, Tr 197 4 PGS.TS Nguyễn Hải Kế (1985), “ Đề Hồng Đức và công cuộc khẩn hoang vùng ven biển nam sông Hồng thời Lê Sơ”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5, 1985. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê…quá hạn mà không xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm.
Quân lính và dân đinh…bị trượng hoặc biếm” – Điều 181 QTHL. Năm 1481, vua Lê Thánh Tông quyết định cho thành lập 43 sở đồn điền trong cả nước đặt ở các vùng Bắc Bộ (30 sở), Thanh Hóa (5 sở), Nghệ An (4 sở), Thuận Hóa (2 sở), Quảng Nam (2 sở) việc cho đặt nhiều đồn điền nằm rải rác trong cả nước như vậy vừa để tập trung sức dân vào sản xuất, vừa thúc đẩy nông nghiệp phát triển, tạo tiềm lực cho đất nước, các quan đứng đầu các đồn điền có nhiệm vụ mộ dân nghèo lưu tán, khai phá ruộng đất. Ruộng đất trong cả nước được chia làm ba loại sở hữu: - Ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước. - Ruộng đất công làng xã - Ruộng đất tư hữu Nhà vua là chủ sở hữu toàn bộ ruộng đất trong cả nước, có toàn quyền phân phong cho những người khác.
Để giải quyết tình trạng dân lưu tán, đưa nhân dân về quê quán cũ để sản xuất, nhà Lê đã có quy định cấm tư nhân không được lập thêm đồn điền để đưa lưu dân vào canh tác và ban hành các chính sách về ruộng đất, đảm bảo ruộng đất được sử dụng một cách hiệu quả luôn là trọng tâm hoạt động của NN. Chính sách về ruộng đất một mặt giúp đảm bảo đời sống nhân dân, mặt khác làm ổn định đời sống xã hội, lúc cần thiết có thể huy động sức người, sức của cho các hoạt động chung của cả nước như trong việc xây dựng các công trình đê điều, giao thông, bảo vệ đất nước…Việc NN chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn không những làm ổn định xã hội, phát triển kinh tế, đảm bảo nguồn thu 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho NN mà còn thể hiện sự quan tâm của nhà vua, bộ máy quan lại tới đời sống, nhu cầu của người dân, quan tâm tới nền sản xuất nông nghiệp.2 Ban hành các chính sách lớn về nông nghiệp Để đảm bảo việc quản lý đất đai trên cả nước, phát triển nông nghiệp và ban thưởng cho các công thần, quan lại, nhà Lê đã cho thi hành 2 chính sách lớn về ruộng đất trong cả nước, đó là chế độ Lộc Điền và Quân Điền: a. Chế độ Lộc điền Chế độ Lộc điền đã được sớm hình thành dưới triều Lê và được hoàn thiện vào năm 1477 dưới thời Lê Thánh Tông, gồm cả ruộng thưởng công và ruộng lộc như một hình thức lương bổng qua tô tức. Đối tượng được hưởng chính sách này là các quan lại từ tứ phẩm trở lên cho đến các tước vương, công, hầu, bá.
Trên nguyên tắc thì đất Lộc điền vẫn thuộc sở hữu của NN, người được ban phát chỉ có quyền sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định và không có quyền sở hữu: Loại cấp cho phép sử dụng tạm thời, sau khi người được cấp chết ba năm thì NN thu lại gọi là tứ điền, loại đất này chiếm phần lớn trong diện tích đất được ban cấp và loại đất cấp lâu dài cho phép lưu truyền cho con cháu gọi là thế nghiệp điền hoặc thế nghiệp thổ. Trong quá trình phát triển của loại hình ruộng đất này mặc dù không phải là ruộng tư nhưng xu hướng chuyển hoá chủ yếu của nó là khẳng định quyền sở hữu của người được ban cấp, biến dần ruộng được cấp thành ruộng tư. Việc ban thưởng nhằm để củng cố bộ máy chính quyền và đảm bảo việc sử dụng các ruộng đất đã bỏ hoang, thúc đẩy phát triển nông nghệp.Những quan lại, quý tộc được nhà vua ban cho ruộng đất lộc điền có quyền thu tô với những người nông dân sản xuất trên 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.