Tổng quan nghiên cứu

Vịnh Hạ Long là một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của Việt Nam, được UNESCO hai lần công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới về giá trị cảnh quan và địa chất địa mạo. Theo thống kê của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, chỉ tính đến tháng 9 năm 2011, địa phương đã đón hơn 5,8 triệu lượt khách, trong đó có gần 2,4 triệu lượt khách quốc tế và hơn 3,4 triệu lượt khách lưu trú, mang lại tổng doanh thu ước tính vượt 3.000 tỷ đồng. Với chiều dài bờ biển trên 50 km của thành phố Hạ Long và vùng vịnh sở hữu hàng nghìn hòn đảo đá vôi kỳ vĩ, hoạt động khai thác du lịch biển đảo tại đây đã tạo động lực tăng trưởng kinh tế xã hội vượt bậc.

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của lượng khách cùng hạ tầng dịch vụ đã tạo nên áp lực nặng nề lên hệ sinh thái tự nhiên. Môi trường karst nhiệt đới ngập nước vốn vô cùng nhạy cảm trước các tác động nhân sinh từ hoạt động lưu trú, tàu thuyền vận chuyển và xả thải. Đề tài tập trung giải quyết vấn đề mâu thuẫn giữa khai thác kinh tế du lịch và bảo tồn môi trường tự nhiên tại Vịnh Hạ Long. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường du lịch biển đảo, khảo sát và đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường (đất, nước, không khí, sinh vật), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giảm thiểu ô nhiễm và phát triển du lịch bền vững.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào vùng lõi di sản và các điểm đón khách trọng điểm như hang Đầu Gỗ, động Thiên Cung, hang Sửng Sốt, bãi Ti Tốp và khu vực Bãi Cháy. Phạm vi thời gian sử dụng chuỗi dữ liệu thứ cấp và thực địa từ năm 2008 đến năm 2012. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao hiệu lực quản lý, kiểm soát nguồn thải và thiết lập các chỉ số định lượng phục vụ công tác giám sát di sản lâu dài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết phát triển du lịch bền vững và lý thuyết sinh thái học cảnh quan. Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, môi trường được định nghĩa là hệ thống các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất và sự tồn tại của sinh vật. Trong bối cảnh ngành kinh tế dịch vụ, môi trường du lịch là tổng hòa các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn nơi hoạt động du lịch diễn ra. Mối quan hệ giữa du lịch và môi trường tự nhiên mang tính chất tương hỗ hai chiều: môi trường là nguồn tài nguyên đầu vào thiết yếu, đồng thời hoạt động du lịch tác động tích cực thông qua tái đầu tư bảo tồn hoặc tác động tiêu cực qua việc phát sinh chất thải và phá vỡ cảnh quan.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết sức chứa du lịch (carrying capacity) và bài học quản trị môi trường từ các mô hình quốc tế. Tiêu biểu là mô hình Dự án Bảo tồn Khu vực Annapurna (ACAP) tại Nepal với cơ chế trích lại 60% lợi nhuận du lịch và thu phí vào cổng từ 1,5 đến 15 USD/khách để tái đầu tư vào quỹ bảo vệ môi trường. Tại Senegal, mô hình du lịch nông thôn Casamance khống chế nghiêm ngặt công suất phục vụ từ 20 đến 40 khách/lần tại mỗi làng để duy trì cân bằng sinh thái. Tại Brazil, các doanh nghiệp lữ hành sinh thái áp dụng quy chuẩn giới hạn đoàn tham quan dưới 10 người nhằm giảm tải áp lực sinh thái. Những khung lý thuyết và kinh nghiệm này tạo tiền đề vững chắc để đánh giá thực trạng tại Vịnh Hạ Long.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp: Thu thập hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Thông tư số 10/2006/TT-BTNMT, các báo cáo môi trường quốc gia năm 2007, báo cáo môi trường Vịnh Hạ Long năm 2010 cùng các quy hoạch phát triển di sản đến năm 2020 của cơ quan quản lý.
  • Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA) và phỏng vấn bảng hỏi: Tác giả đã tiến hành điều tra với cỡ mẫu gồm 200 đối tượng, bao gồm 150 khách du lịch nội địa, quốc tế và 50 người dân, hộ kinh doanh dịch vụ tại địa phương. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng tại 5 cụm điểm du lịch trọng yếu nhằm đảm bảo tính đại diện cho các nhóm đối tượng thụ hưởng và tác động.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát hiện trường tại các tuyến điểm: động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Tam Cung, hang Sửng Sốt, đảo Ti Tốp và Bãi Cháy trong giai đoạn 2011 - 2012 để ghi nhận tình trạng xả thải, hoạt động của tàu du lịch và chất lượng cảnh quan.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì môi trường du lịch biển đảo có tính biến động cao và chịu ảnh hưởng đa chiều; việc kết hợp số liệu quan trắc chuyên ngành với dữ liệu điều tra xã hội học giúp làm sáng tỏ cả khía cạnh kỹ thuật lẫn ý thức chấp hành pháp luật môi trường của cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng môi trường tự nhiên trong hoạt động du lịch tại Vịnh Hạ Long giai đoạn 2008 - 2012 đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ hoạt động du lịch gia tăng nhanh chóng. Trung bình mỗi ngày có hơn 500 lượt tàu thuyền đưa đón khách tham quan; với định mức phát thải ước tính khoảng 0,2 kg rác/khách/ngày, lượng rác thải rắn phát sinh trực tiếp là rất lớn. Tổng khối lượng rác thải thu gom trên vịnh đạt khoảng 6 m3/ngày. Về cơ cấu nguồn phát sinh, rác trôi dạt theo các dòng hải lưu chiếm tỷ trọng cao nhất với 60%, rác thải trực tiếp từ khách tham quan chiếm 30%, và 10% còn lại phát sinh từ các làng chài nổi ven bờ.

Thứ hai, môi trường nước biển ven bờ và tại các điểm tập trung tàu du lịch có dấu hiệu ô nhiễm dầu cục bộ. Nước biển tại khu vực hang Đầu Gỗ, bến tàu Bãi Cháy và các luồng hàng hải ghi nhận hàm lượng váng dầu và chất hữu cơ tăng cao do nước đáy tàu la-de của hàng trăm phương tiện thủy chưa qua hệ thống lọc tách đạt chuẩn xả trực tiếp ra môi trường.

Thứ ba, môi trường không khí và cảnh quan đất ven bờ chịu tác động đan xen từ nhiều ngành kinh tế. Mặc dù chất lượng không khí tổng thể trên vịnh vẫn trong ngưỡng cho phép, nhưng tại một số điểm tiếp giáp cảng than, cảng tổng hợp Cái Lân và khu vực Cẩm Phả xuất hiện tình trạng ô nhiễm bụi lơ lửng, khí SO2, CO và bụi than cục bộ. Đất ven bờ tại các bến bãi tiếp nhận dư lượng kim loại nặng và dầu mỡ từ phương tiện giao thông đường thủy, đường bộ.

Thứ tư, năng lực cơ sở vật chất phục vụ bảo vệ môi trường đã có bước đầu đầu tư nhưng chưa đáp ứng kịp tốc độ tăng trưởng du khách. Toàn vịnh chỉ bố trí 04 thuyền chuyên dụng và 06 thuyền thu gom rác nổi nhỏ, hoạt động phân tán trên diện tích mặt nước rộng hàng trăm km2. Biểu phí bảo vệ môi trường áp dụng cho các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống, khách sạn từ 30.000 đến 300.000 đồng/tháng và cơ sở nhỏ từ 20.000 đến 50.000 đồng/tháng còn quá thấp, chưa tạo đủ nguồn lực tài chính bù đắp chi phí vận hành xử lý chất thải.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu nguồn phát thải và nồng độ chất ô nhiễm có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ nguồn rác (60% rác trôi dạt, 30% từ khách du lịch, 10% từ làng chài) và bảng so sánh các chỉ tiêu quan trắc nước mặt giữa khu vực vùng lõi bảo tồn với khu vực bến tàu, luồng vận tải.

Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ cả yếu tố chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, nhận thức của một bộ phận du khách và người làm du lịch chưa cao, thói quen xả rác bừa bãi vẫn tồn tại; các chế tài xử phạt hành chính từ các cấp thẩm quyền còn nể nang, chưa đủ sức răn đe. Về mặt khách quan, địa bàn Vịnh Hạ Long là không gian phát triển kinh tế tổng hợp với sự chồng lấn giữa khai thác khoáng sản than, công nghiệp đóng tàu, vận tải biển quốc tế và bảo tồn di sản. Khi so sánh với các nghiên cứu tại các khu bảo tồn quốc tế như Nepal hay Ecuador, công tác bảo vệ môi trường tại Vịnh Hạ Long còn thiếu cơ chế điều tiết tài chính linh hoạt và mô hình đồng quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng một cách toàn diện.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ môi trường tự nhiên trong hoạt động du lịch Vịnh Hạ Long:

  1. Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và năng lực thu gom, xử lý chất thải: Ban Quản lý Vịnh Hạ Long phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh đầu tư thêm 05 tàu thu gom rác chuyên dụng công suất lớn, trang bị thiết bị phao quây và máy hút dầu tràn tại các bến tàu trung tâm; đặt mục tiêu thu gom đạt trên 95% lượng rác thải nổi tại các tuyến điểm du lịch trong lộ trình giai đoạn 2013 - 2015.
  2. Cải cách cơ chế tài chính và thành lập Quỹ Môi trường Di sản: Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần điều chỉnh mức thu phí bảo vệ môi trường, trích từ 15% đến 20% tổng doanh thu bán vé tham quan vịnh (khoảng hơn 40 tỷ đồng mỗi năm) để tái đầu tư trực tiếp cho các dự án quan trắc, thu gom rác và xử lý nước thải sinh hoạt trên các tàu lưu trú trước năm 2015.
  3. Quy hoạch phân vùng và kiểm soát sức chứa sinh thái: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh chủ trì thiết lập quy định giới hạn số lượng khách tại các hang động trọng điểm (không quá 100 khách/lượt tại hang Sửng Sốt, động Thiên Cung); tái cơ cấu luồng tuyến tham quan, mở rộng các tuyến sinh thái trải nghiệm chèo thuyền kayak tại khu vực Cống Đỏ, Hang Luồn để giãn tải cho vùng lõi, triển khai ngay từ quý I năm 2013.
  4. Tăng cường thanh tra, thực thi pháp luật và giáo dục môi trường: Lực lượng Cảnh sát Môi trường phối hợp liên ngành kiểm tra định kỳ 100% phương tiện tàu du lịch về việc lắp đặt bồn chứa chất thải đạt chuẩn; đồng thời duy trì chương trình giáo dục di sản tại 100% trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo tài liệu do FFI và Ban Quản lý Vịnh phát hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban Quản lý di sản: Giúp Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ban Quản lý Vịnh Hạ Long nắm bắt cơ sở dữ liệu thực chứng về nguồn thải, từ đó xây dựng các chính sách điều tiết phí, phân luồng tuyến du lịch và nâng cấp trang thiết bị quan trắc môi trường biển.
  • Doanh nghiệp lữ hành và đơn vị kinh doanh vận tải thủy: Cung cấp góc nhìn thực tế về tác động của hơn 500 tàu thuyền du lịch, giúp các chủ tàu tối ưu hóa quy trình quản lý chất thải la-de, chuyển đổi sang các mô hình tour sinh thái có trách nhiệm và giảm thiểu phát thải nhựa.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Khoa học Môi trường, Địa lý học: Là tài liệu tham khảo chất lượng về khung phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu định lượng xã hội học và phân tích địa mạo karst, phục vụ việc viết luận văn, khóa luận và các công trình nghiên cứu về kinh tế du lịch bền vững.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và cộng đồng địa phương: Sử dụng làm tài liệu cơ sở để xây dựng các dự án bảo tồn đa dạng sinh học, trồng thử nghiệm rạn san hô và thiết kế các chương trình sinh kế cộng đồng thay thế việc khai thác thủy hải sản quá mức.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động du lịch tác động tiêu cực nhất đến thành phần môi trường nào tại Vịnh Hạ Long?
Môi trường nước mặt ven bờ và cảnh quan hang động chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Hơn 500 phương tiện tàu du lịch hoạt động liên tục phát sinh váng dầu mỡ và chất thải hữu cơ, trong khi lượng rác thải rắn sinh hoạt trung bình 0,2 kg/khách/ngày làm mất mỹ quan sinh thái nếu không được thu gom triệt để.

Cơ cấu nguồn gốc rác thải thu gom hàng ngày trên Vịnh Hạ Long phân bố ra sao?
Theo kết quả khảo sát thực tế, tổng lượng rác thu gom trung bình đạt 6 m3/ngày. Trong đó, 60% bắt nguồn từ rác trôi dạt tự nhiên theo hải lưu và các hoạt động ven bờ lân cận, 30% phát sinh trực tiếp từ khách tham quan du lịch, và 10% còn lại xuất phát từ sinh hoạt của các hộ dân làng chài.

Mô hình quốc tế nào có thể ứng dụng hiệu quả vào công tác quản trị môi trường tại Vịnh Hạ Long?
Mô hình Quỹ bảo tồn Annapurna (ACAP) tại Nepal với việc trích trả 60% lợi nhuận thu từ vé tham quan để phục vụ trực tiếp cho công tác bảo tồn, cùng mô hình giới hạn quy mô đoàn khách dưới 10 người của Brazil là những bài học thực tiễn giá trị cho việc giảm tải sức chứa tại Vịnh Hạ Long.

Phương pháp chọn mẫu điều tra xã hội học trong luận văn được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với quy mô 200 phiếu khảo sát, phân bổ cho 150 khách du lịch và 50 người dân, hộ kinh doanh. Dữ liệu được thu thập trực tiếp tại 5 điểm tập trung đông khách nhất gồm hang Đầu Gỗ, động Thiên Cung, hang Sửng Sốt, đảo Ti Tốp và Bãi Cháy.

Mức phí bảo vệ môi trường áp dụng cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Mức phí định kỳ áp dụng cho các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống, khách sạn dao động từ 30.000 đến 300.000 đồng/tháng; các hộ kinh doanh dịch vụ nhỏ từ 20.000 đến 50.000 đồng/tháng; và hộ dân không kinh doanh từ 2.000 đến 15.000 đồng/tháng, mức thu này được đánh giá là còn tương đối thấp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển du lịch biển đảo và bảo vệ môi trường tự nhiên trong bối cảnh di sản thế giới.
  • Phân tích chi tiết hiện trạng các thành phần môi trường đất, nước, không khí và sinh thái tại Vịnh Hạ Long giai đoạn 2008 - 2012 với số liệu thực chứng minh bạch.
  • Chỉ rõ 4 nguồn phát thải chính và định lượng cơ cấu rác thải mặt nước với tỷ lệ 60% rác trôi dạt, 30% từ khách du lịch và 10% từ làng chài.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế điển hình từ Nepal, Senegal, Ecuador, Guatemala và Brazil để áp dụng phù hợp vào điều kiện địa phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kỹ thuật thu gom, cơ chế tài chính quỹ bảo tồn, phân vùng sức tải và giáo dục cộng đồng.

Đóng góp lớn nhất của công trình là việc cung cấp bức tranh thực trạng chân thực cùng khung giải pháp mang tính khả thi cao, góp phần giải quyết hài hòa bài toán giữa tăng trưởng kinh tế du lịch và bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản địa chất, cảnh quan thiên nhiên của Vịnh Hạ Long. Theo lộ trình tiếp theo từ năm 2013 đến năm 2020, các cấp quản lý cần khẩn trương số hóa công tác quan trắc môi trường và hoàn thiện cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp các luận cứ trong đề tài này để áp dụng vào các dự án quản trị du lịch sinh thái bền vững trong thực tiễn.