Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 1. Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ động vật hoang dã 1. Khái niệm động vật hoang dã Hiện nay, tại Việt Nam các học giả chưa đưa ra một khái niệm chính xác về ĐVHD. Do đó, trong nội dung này, tác giả sẽ tham khảo và phân tích các từ điển trong nước và quốc tế nhằm đưa ra một khái niệm tương đối về ĐVHD.
Theo từ điển “American Heritage® Dictionary of the English Language, Fifth Edition”, ĐVHD được hiểu là những loài động vật chưa bị thuần hoá và thường sống trong môi trường tự nhiên [35]. Theo Bách khoa tri thức Việt Nam, “động vật là những cơ thể sống dinh dưỡng bằng những vật chất sống”. Phần lớn động vật có thể di chuyển được và có một hệ thần kinh. Khác với thực vật, động vật không tự tạo ra chất dinh dưỡng cho mình mà phải tồn tại nhờ nguồn thực vật trong thiên nhiên hoặc động vật khác mà chúng bắt được [26].
Bên cạnh đó, Điều 3 Luật đa dạng sinh học của Việt Nam năm 2008 cũng định nghĩa: “Loài hoang dã là loài đô ̣ng vâ ̣t, thực vâ ̣t, vi sinh vâ ̣t và nấ m sinh sống và phát triển theo quy luật”. Từ những khái niệm này, tác giả cho rằng có thể hiểu “ĐVHD” là những cơ thể sống dinh dưỡng theo quy luật trong tự nhiên, chưa bị con người thuần hóa (ví dụ như các loài hổ, báo, tê giác, tê tê…). Cần lưu ý rằng việc ĐVHD sống theo quy luật trong tự nhiên và chưa bị con người thuần hoá không có nghĩa là ĐVHD không hề chịu sự tác động của con người. Bên cạnh hoạt động săn bắt có chủ đích ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các loài ĐVHD, có thể dễ dàng nhận thấy những hoạt động sống của con người hiện 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nay đang tác động lên mọi mặt của trái đất như tài nguyên, khí hậu, nguồn nước… và do đó đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các loài ĐVHD ở những mức độ khác nhau.
Ví dụ, lượng khí thải nhà kính tăng cao từ các hoạt động “công nghiệp hóa” nhằm phát triển kinh tế của con người hiện đang dẫn đến tình trạng trái đất nóng lên, thời tiết khô hạn và một hệ quả tất yếu là cháy rừng. Hiện tượng này không những hủy họa môi trường sống của nhiều loài mà cũng trực tiếp giết chết các cá thể ĐVHD. Từ khái niệm ĐVHD được đúc kết ở trên cũng có thể thấy ĐVHD khác với động vật nuôi (ví dụ như trâu, bò, lợn, gà…) ở chỗ nó chưa được con người thuần hóa nhằm phục vụ một mục đích nào đó của con người (hỗ trợ lao động, làm thực phẩm…). Tuy nhiên, sự so sánh này cũng chỉ mang tính chất tương đối.
Hiện nay, rất nhiều các quần thể ĐVHD vừa sinh sống trong tự nhiên và đồng thời một bộ phận cũng được con người “thuần hóa”, “gây nuôi” thành công nhằm phục vụ các nhu cầu của con người như cá sấu, nhím, trăn, rắn, ba ba trơn, lợn rừng…. Quần thể các loài này ngoài tự nhiên sẽ được gọi là ĐVHD trong khi các cá thể có nguồn gốc sinh sản từ các trang trại gây nuôi vì mục đích thương mại sẽ được gọi là động vật nuôi, ví dụ như nhím nuôi, rắn nuôi, lợn rừng nuôi… Thế giới ĐVHD rất phong phú và phân bố đa dạng trong các môi trường sống khác nhau. Việc nghiên cứu toàn bộ hệ thống pháp luật liên quan đến những loài này là không khả thi. Chính vì vây, phạm vi luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các quy định về bảo vệ ĐVHD hiện được liệt kê trong các danh mục bảo vệ của Nhà nước.
Các loài thủy sinh được coi là thực phẩm truyền thống của con người như các loài cua, mực, tôm biển vẫn đang được khai thác tự do trong các vùng biển của Việt Nam hay các loài côn trùng, giáp xác không được liệt kê trong các danh mục bảo vệ của Nhà nước sẽ không được nghiên cứu trong luận văn này. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả cho rằng các nhà làm luật của Việt Nam cần đưa ra một khái niệm rõ ràng về ĐVHD và danh sách các loài ĐVHD được bảo vệ (không chỉ bao gồm các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm mà còn bao gồm một số loài ĐVHD thông thường khác) nhằm tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu và thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Danh sách này có thể được thường xuyên sửa đổi, bổ sung tuỳ theo phát hiện mới của các nhà khoa học. Vai trò của động vật hoang dã Là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái, ĐVHD có nhiều giá trị to lớn, trong đó giá trị quan trọng nhất chính tạo ra hệ sinh thái bền vững, diễn thế theo con đường tự nhiên.
ĐVHD là thành tố của nhiều quá trình trao đổi chất quan trọng trong tự nhiên, tạo lên các mắt xích trong chuỗi thức ăn hay lưới thức ăn. Ngoài ra, nhiều loài ĐVHD đặc hữu mang các gen quý chứa đựng những tính trạng tốt mà các loài động vật khác không có. Thông qua các loài hoang dã này, con người có thể nghiên cứu, khai thác và sử dụng một cách hợp lý các gen này đạt hiệu quả cao nhất. Thêm vào đó, ĐVHD còn mang lại nhiều giá trị khác về mặt kinh tế như là nguồn thức ăn, nguyên liệu công nghiệp, phân bón, dược liệu quý hoặc được sử dụng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục… Bên cạnh các tác động tích cực này, ĐVHD trong một số trường hợp cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những bệnh dịch nguy hiểm cho con người.
Một số đại dịch hiện nay như SARS, EBOLA, MER … đều có nguồn gốc từ ĐVHD [32]. Không những vậy, một số loài “thú dữ” cũng có thể gây hại, tấn công con người hoặc tàn phá lương thực, mùa màng. Tuy nhiên, có thể thấy ĐVHD có các tác động tích cực là chủ yếu và từ đó thúc đẩy nhiệm vụ phải bảo tồn các loài ĐVHD vì chính cuộc sống của con người. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phân loại động vật hoang dã ĐVHD có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như đặc điểm sinh học, mức độ nguy cấp hay địa điểm phân bố. Tuy nhiên, luận văn chỉ tiến hành phân loại ĐVHD dựa trên mức độ nguy cấp và địa điểm phân bố của các loài này – là hai phương thức phân loại hiện đang được đề cập trong các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam. Thứ nhất, phân loại dựa trên mức độ nguy cấp của các loài ĐVHD Theo mức độ nguy cấp, có thể phân chia các loài ĐVHD thành ĐVHD thông thường và ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Trong đó, hiện nay pháp luật chưa đưa ra khái niệm ĐVHD thông thường nhưng có thể hiểu ĐVHD thông thường là các loài động vật sinh sống trong các môi trường tự nhiên khác nhau, số lượng cá thể còn nhiều trong tự nhiên và chưa bị đe doạ tuyệt chủng.
Trong khi đó, hiện nay pháp luật Việt Nam đưa ra nhiều khái niệm có liên quan đến ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Nhìn chung, có thể thấy hai đặc tính cơ bản của loài nguy cấp, quý, hiếm nói chung là “có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học, môi trường” và “số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng”. Trong một số trường hợp, hai yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau bởi lẽ chính các “giá trị đặc biệt” đã khiến các loài ĐVHD này bị săn bắt, khai thác nhiều hơn trong tự nhiên và vì thế số lượng còn ít hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Trên thế giới, các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cũng được các tổ chức hoặc chuyên gia phân loại theo nhiều cách thức khác nhau.
Một trong các cách thức phân loại thường được các nhà khoa học tham khảo là phân loại ĐVHD của Liên minh IUCN. Từ năm 1963, Liên minh IUCN thường xuyên phát hành Sách đỏ (tiếng Anh: IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red Listhay Red Data List) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới. Trong đó, các loài ĐVHD được chia thành các cấp độ nguy cấp như sau [42]: - Extinct EX (tuyệt chủng) - Extinct in the Wild EW (tuyệt chủng trong tự nhiên) - Critically Endangered CR (cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng) - Endangered EN (nguy cấp cao) - Vulnerable VU (bị đe dọa, sắp nguy cấp) - Near Threatened NT (sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ) - Least Concern LC (ít quan tâm) - Data Deficient DD (không đủ dữ liệu) - Not Evaluated NE (không phân loại hoặc không đánh giá) Tại Việt Nam, các nhà khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã xây dựng Sách đỏ Việt Nam trong đó các tiêu chuẩn được xây dựng trên nền tảng tiêu chuẩn của IUCN nhưng có nghiên cứu đến hiện trạng phân bố quần thể loài ở Việt Nam. Hiện nay, nhiều người cho rằng các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm là các loài ĐVHD được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam hoặc Sách đỏ thế giới.
Tuy nhiên, trên thực tế các danh mục Sách đỏ này chỉ mang tính chất tham khảo và không có ý nghĩa trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD. Trong quy định của pháp luật Việt Nam, các loài ĐVHD sẽ được coi là nguy cấp, quý, hiếm và được pháp luật bảo vệ chặt chẽ nếu nằm trong các Phụ lục của CITES (các loài có tên trong các Phụ lục I, II); Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/ND- CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định số 160/2013/NĐ- CP); động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB và IIB Danh mục loài 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.