MỞ ĐẦU Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh là Di sản thiên nhiên thế giới, nổi tiếng với các giá trị thiên nhiên và giá trị địa chất ngoại hạng. Ngoài các giá trị ngoại hạng đã được thế giới công nhận, Vịnh Hạ Long còn có một giá trị to lớn khác là đa dạng sinh học cao của Vịnh. Đa dạng sinh vật của Vịnh Hạ Long không chỉ thể hiện ở cấp độ nguồn gen, cấp độ loài mà còn cả ở cấp hệ sinh thái của một vùng biển ven bờ nhiệt đới như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh thái bãi triều cát, hệ sinh thái bãi triều đáy đá, hệ sinh thái rạn san hô, HST hang động – Tùng áng, các thảm thực vật trên đảo …. Quảng Ninh là một đỉnh của tam giác kinh tế (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) đang phát triển rất năng động về mọi mặt trong thời gian gần đây nên chịu nhiều sức ép về mọi mặt như biến đổi khí hậu, ô nhiễm từ cộng đồng dân cư ven bờ, hoạt động giao thông, cảng biển, hoạt động du lịch, nuôi trồng, khai thác thuỷ sản, ô nhiễm do san lấn biển, đổ phế thải trên biển, các khu công nghiệp và đặc biệt là ô nhiễm từ hoạt động khai thác than.
Các hoạt động này đã và đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho vùng vịnh Hạ Long. Vì vậy, các hệ sinh thái của vịnh Hạ Long đã bị tác động mạnh mẽ. Các giá trị đa dạng đang dần bị tổn hại. Đặc biệt các giá trị dễ bị tổn thương như các loài quý hiếm, hệ sinh thái rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng.
Trong những năm gần đây, mặc dù công tác bảo vệ môi trường nói chung và hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học vịnh Hạ Long nói riêng đã được quan tâm, tuy nhiên các hoạt động này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, môi trường vẫn ô nhiễm, các hệ sinh thái vẫn bị xâm phạm và suy thoái. Trước thực trạng đó, cần thiết phải có những nghiên cứu nhằm xây dựng các kế hoạch hành động cụ thể, các nhóm giải pháp hiệu quả nhằm bảo vệ giá trị đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long. Tất cả những vấn đề trên là lý do để lựa chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu các biện pháp bảo vệ các giá trị đa dạng sinh học của khu Di sản thiên nhiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long” 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Bảo tồn đa dạng sinh học.
Theo Lê Trọng Cúc, (2012). Đa dạng sinh học là sản phẩm của một quá trình tiến hóa lâu dài. Trong quá trình đó, mỗi loài đã tích lũy cho mình những gen chống chịu được bệnh tật, thích nghi được với những hệ sinh thái đặc thù. Mỗi loài có vai trò nhất định trong hệ sinh thái, là một mắt xích khép kín trong chu trình vật chất của hệ.
Mất đi một loài là giảm đi độ bền vững của hệ. Vì vậy, đa dạng sinh học cần được bảo tồn bằng một loạt các biện pháp nhằm đảm bảo sự an toàn cho các loài, nguồn gen và hệ sinh thái. Những hành động bảo tồn đa dạng sinh học đã được nêu ra trong Chiến lược về đa dạng sinh học và Chương trình hành động của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), Chương trình bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Viện tài nguyên thế giới (WRI). Bảo tồn đa dạng sinh học đòi hỏi sự hợp tác của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học từ nhiều lĩnh vực khác nhau như các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà quản lý tài nguyên, các nhà giáo dục, các cộng đồng dân tộc, vv.
để đề xuất và phát triển các mô hình thực tế bảo tồn đa dạng sinh học. Theo Trương Quang Học, Võ Quý (2008). Đa dạng sinh học là cơ sở của sự sống và sự phát triển bền vững của xã hội loài người. Đa dạng sinh học có thể đáp ứng nhu cầu cấp thiết của loài người trên trái đất trong cả hiện tại và tương lai.
Thế nhưng, hiện nay, đa dạng sinh học đang bị khai thác quá mức dẫn đến nhiều nguồn tài nguyên đa dạng sinh học không còn đáp ứng nổi các nhu cầu cho chúng ta và không còn khả năng phục hồi. Sự suy thoái ĐDSH sẽ làm suy giảm khả năng phát triển của loài người. Để đảm bảo sự phát triển bền vững phải bảo tồn ĐDSH và biết cách sử dụng nó một cách bền vững. Đối với loại tài nguyên sinh học, là dạng tài nguyên có khả năng tái tạo lại được, điều quan trọng là tạo được sản lượng tối đa mà không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cơ sở.
Sản lượng này hoàn toàn có hạn và không thể khai thác quá khả năng chịu đựng, nếu không muốn làm giảm năng suất 11 trong tương lai. Vấn đề là phải biết kiềm chế, biết cách sử dụng một cách khôn khéo, và làm ổn định nhu cầu trong giới hạn cho phép bằng cách ổn định dân số, nâng cao nhận thức của mọi người về ĐDSH đối với cuộc sống cua họ, và tăng quyền chủ động của họ trong việc quản lý, sử dụng và bao vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào đó. Mục tiêu của bảo tồn, quản lý ĐDSH và sử dụng bền vững các tài nguyên sinh học là „nhằm giữ được sự cân bằng tối đa giữa bảo tồn sự đa dạng của thiên nhiên và tăng cường chất lượng cuộc sống của con người‟. Để có thể thực hiện được mục tiêu nói trên và phát triển bền vững, các chính phủ, các công dân, các tổ chức quốc tế, các tổ chức kinh doanh và các tổ chức phi chính phủ cần phải cộng tác chặt chẽ với nhu để tìm ra con đường phát triển mà không làm đảo lộn các quá trình cơ bản của hành tinh và bảo tồn được sự ĐDSH.
Mục tiêu quan trọng nhất của chiến lược phát triển bền vững là càng bảo tồn ĐDSH được càng nhiều càng tốt (Holdgate 1994). Bảo tồn và quản lý ĐDSH là sự cố gắng của loài người trong việc hoạch định và thực thi một số mục tiêu sau đây: Gìn giữ và sử dụng hợp lý ĐDSH, các nguồn tài nguyên sinh học và đảm bảo sự phân chia một cách công bằng lợi ích thu được từ các nguồn tài nguyên trên; Phát triển khả năng con người, nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng và thể chế để thực hiện được các mong muốn trên; Tạo lập được các thể chế phu hợp để thúc đẩy được sự cộng tác cần thiết giữa các tổ chức chính phủ, các cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ, các cơ sở kinh doanh và các cá nhân có hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên nói trên. Bảo tồn ĐDSH nói đến ở đây là nói đến các hoạt động nhằm gìn giữ được ĐDSH về các mặt: cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho cuộc sống của con người, các giá trị về xã hội, văn hóa và các dịch vụ về sinh thái. Bảo tồn ĐDSH cũng bao gồm cả các hoạt động liên quan đến bảo tồn các loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cảnh quan, thông qua bảo tồn các hệ sinh thái và việc khai thác một cách hợp lý các cây, con và cả các nguồn tài nguyên vi sinh vật để 12 phục vụ cho cuộc sống của con người, cho đến việc sản xuất và phân phối các lợi nhuận có được từ các tài nguyên sinh vật.
(Trương Quang Học, Võ Quý (2008)) Chúng ta cũng biết rằng ĐDSH cực kỳ phức tạp; ĐDSH bao gồm rất nhiều thành phần, mối tương tác giữa các thành phần đó với nhau rất phức tạp, và một điều nữa đó là chúng ta chưa nói đến việc còn rất nhiều thành phần của ĐDSH mà chúng ta chưa biết được. Để có thể hoàn thành được mục tiêu là giữ được sự cân bằng giữa bảo tồn, sử dụng bền vững và phân chia công bằng các lợi ích, đòi hỏi phải có cơ cấu tổ chức phù hợp và tập trung vào việc giải quyết được một cách ổn thỏa cuộc sống của con người, nhất là những người nghèo khổ. Các nguyên nhân chính suy thoái ĐDSH là mất nơi sinh sống, khai thác quá mức, ô nhiễm, xâm nhập của các loài ngoại lai… Ngoài các nguyên nhân trên còn nhiều nguyên nhân rất phức tạp nữa có nguồn gốc từ nền kinh tế xã hội, chính sách, luật lệ được đặt ra từ chình quyền các cấp, và cả từ cộng đồng dân cư. Để thực hiện được công cuộc bảo tồn ĐDSH của từng quốc gia, từng địa phương để đề xuất được kế hoạch quản lý thích hợp.
Để thực hiện mục tiêu bảo tồn ĐDSH, mà còn cần có hiểu biết sâu sắc hoàn cảnh xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa vùng mục tiêu mà các hoạt động quản lý đang theo đuổi. Thứ hai là cần thiết phải chọn lựa những công cụ và phương pháp thích hợp có nhiều triển vọng để hoàn thành được mục tiêu đề ra. Bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới. Đứng trước các nguy cơ về suy thoái đa dạng sinh Hội nghị Thượng đỉnh ở Rio de Janeiro bởi 150 nước năm 1992 đã ký Công ước đa dạng sinh học và có hiệu lực kể từ tháng 12 năm 1992.
Đến tháng 01 năm 2004 đã có 188 nước ký vào công ước, trong đó Mỹ là một trong số những nước ký sau cùng. Việt Nam tham gia ký kết ngày 16/11/1994. Công ước về Đa dạng Sinh học có ba mục tiêu: Bảo vệ đa dạng sinh học; Sử dụng bền vững đa dạng sinh học; Phân phối công bằng lợi ích có được từ các nguồn gen. 13 Khi ký vào công ước, các nước thành viên đã đồng ý thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để bảo tồn đa dạng sinh học.
Các biện pháp đó là: 1. Xây dựng kế hoạch quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học 2. Xác định các hệ sinh thái, các loài và các nguồn gen quan trọng để bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học 3. Quan trắc đa dạng sinh học và các nhân tố có thể tác động đến đa dạng sinh học 4.
Thiết lập hệ thống các khu bảo tồn 5. Quản lý tài nguyên sinh học để đảm bảo cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững 6. Phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái 7. Thiết lập hệ thống bảo tồn chuyển vị Hiện nay, đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới Tiếp cận hệ sinh thái đang được sử dụng để thực hiện bảo tồn đa dạng sinh học (Smith and Maltby 2003).