Chương 1. Tổng quan tài liệu: 21 trang - Chương 2. Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 06 trang. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 56 trang.
Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu và tình hình điều tra thống kê Loài người đã sử dụng thực vật làm thuốc từ rất sớm và có nhiều bằng chứng cho điều này. Người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền [9]. Người Sumer từ Nagpur, Ấn Độ, lưu giữ 12 công thức pha chế thuốc, hơn 250 loại cây khác nhau được khắc lên phiến đất sét, khoảng 5000 năm trước [10,11], Người Ai Cập cổ đại ghi chép 800 bài thuốc và trên 700 vị thuốc trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây [9].
Cuốn “Ebers papyrus in Egypt”, được người Ai Cập cổ viết vào khoảng năm 1550 TCN, đã ghi lại hơn 780 toa thuốc và công thức sử dụng, 700 loại thảo dược và các chứng bệnh như quả lựu, cây thầu dầu, lô hội, tỏi, hành, vả, liễu, rau mùi, bách xù,. Theo dữ liệu từ Kinh thánh và sách thánh Do Thái Talmud, cây chứa tinh dầu được sử dụng trong nghi lễ và phương pháp điều trị bệnh [15] Ở Châu Á, đất nước Ấn Độ được xem là "cái nôi" của y học cổ với rất nhiều tài liệu ghi chép được truyền lại. Trong đó cuốn sách cổ nhất: "Rig-Veda" được viết vào khoảng 4.500 TCN, đã đề cập đến việc điều trị bệnh bằng thực vật, có nhiều loại cây gia vị được sử dụng như: Nhục đậu khấu, Tiêu, Đinh hương,. [16] Cuốn sách đã giới thiệu hệ thống y học cổ Ayurvedic vào khoảng 4.400TCN, tiếp đến các hệ thống như: Unani, Siddha và Tibetan dùng để chữa trị cho dân tộc này và các dân tộc khác.
Ở thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Sushruta đã viết "Sushruta Amhita", trong đó mô tả 700 cây thuốc, nhiều cây thuốc vẫn được sử dụng trong y học hiện đại [17]. Cùng với Ấn Độ, Trung Quốc ghi nhận sử dụng dược liệu từ rất sớm. Cuốn dược điển "Pen T' Sao"do Shen Nung khoảng 2500 năm TCN, đề cập 365 vị thuốc và cây thuốc, nhiều trong số chúng được sử dụng ngay cả ngày nay như: Đại hoàng, Long não, Khổ sâm vàng, Nhân sâm, vỏ Quế, Ma hoàng,. Cộng đồng dân tộc thiểu số Trung Quốc cũng đã biết sử dụng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc, trong đó, Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.
Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” thống kê hầu hết các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [21]. Gần đây Thomas S. Li ở Đài Loan, Trung 5 Quốc công bố hơn 1.000 loài cây thuốc, danh sách này sắp xếp theo bảng chữ cái Latin [22]. Trong tác phẩm này, ông đã nhấn mạnh tính năng quan trọng để con người trở nên quen thuộc với chất độc thực vật là cách tăng dần liều lượng sử dụng [25, 26] Vào năm 77 sau công nguyên (SCN), Dioscorides với tư cách là bác sĩ quân y và dược sĩ của quân đội Nero, đã nghiên cứu cây thuốc nơi ông đi qua cùng quân đội La Mã.
Tác phẩm “De Materia Medica” do ông viết cung cấp nhiều dữ liệu về cây thuốc chữa bệnh từ thời Trung cổ và thời kỳ Phục hưng [27, 28] Trong tổng số 944 loại thuốc được mô tả, có 657 loại có nguồn gốc thực vật, với các mô tả về hình thái, phân bố, cách thu hái, làm các chế phẩm thuốc và hiệu quả điều trị [29,30]. Pliny the Elder (23 -79 SCN) người đã đi khắp Đức và Tây Ban Nha, viết về khoảng 1000 cây thuốc trong cuốn sách “Historia naturalis”[31]. Các tác phẩm của hai ông đã tổng hợp tất cả kiến thức về cây thuốc thời bấy giờ. Thế kỷ 18, Linnaeus trong tác phẩm: "Species Plantarium" (1753) đã cung cấp một mô tả ngắn gọn và phân loại loài được mô tả cho đến lúc đó.
Ông đã đề ra phương pháp đặt tên loài được dùng cho đến ngày nay [32] Năm 1978, WHO chính thức khởi động một chương trình quốc tế nhằm thúc đẩy và phát triển các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong y học cổ truyền (WHO, 1978; Tsige Gebremariam và Kaleab Asres, 2001) [33,34]. Ðầu thế ỷ XX, Perry (1985) đã công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Ðông Nam Á để tổng hợp thành cuốn “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” trong chương trình nghiên cứu về thực vật nơi đây [35]. Cây thuốc bản địa và thực vật học dân tộc được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và thống kê, đây là những dẫn liệu khoa học quý cho các dân tộc khắp thế giới, đại diện như: điều tra dân tộc học của các bộ lạc Akha của Thái Lan [36], tại Massif của Monteseny, nằm ở phía đông bắc Catalonia (Bán đảo Iberia) từ năm 1993 đến năm 2000 [37], ở Mihalgazi thuộc tỉnh Eskisdehir ở Thổ Nhĩ Kỳ [38], cây thuốc trong khu vực Avsar (Kahramanmaras) và vùng phụ cận, Thổ Nhỉ Kì [39], cây thuốc tộc người Jah Hut (bán đảo Mã Lai ) [40]. Nghiên cứu cây thuốc cổ truyền dùng để điều trị bệnh sốt rét ở Ethiopia [41].
Điều tra dân tộc học về cây 6 thuốc tại hai quần đảo Madeira và Porto Santo thuộc Bồ Đào Nha. Trong số 1209 loài ghi nhận ở hai quần đảo này, có 259 loài chiếm 21,42% đã được sử dụng làm thuốc [42] Khi nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của một số tộc người bản xứ ở Ấn Độ: người bản xứ Kumaun vùng Himalaya, bộ tộc Alipurduar ở huyện Santal, Tây Bengal, ở Bắc Bengal. Các cộng đồng đã sử dụng và thu hái cây thuốc từ rừng và vườn nhà để chữa các nhóm bệnh và đặc biệt đã có ý thức bảo tồn cây thuốc tại vườn nhà [43,44,45] Theo ước lượng các nhà khoa học, có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới. Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Sri Lanka có khoảng 550-700 loài [9] 1.
Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế "Cây trồng phụ có giá trị cao" là cụm từ dùng để chỉ các loại thảo mộc, gia vị, dược liệu và cây tinh dầu, nói chung là những cây đóng góp nhỏ vào sản lượng nông nghiệp của một quốc gia (Sher và cs, 2014)[46]. Các loại dược phẩm có nguồn gốc từ thực vật có thể được bào chế bởi các ngành sản xuất thuốc. Thương mại quốc tế về cây thuốc và các sản phẩm của chúng ước tính đạt 60 tỷ đô la vào năm 2010, và đến năm 2050, dự kiến đạt 5 nghìn tỷ đô la [47]. Từ đánh giá này, rõ ràng là giá trị kinh tế ngày càng tăng của cây thuốc mà các nước đang phát triển cần khai thác để cải thiện hệ thống kinh tế và chăm sóc sức khỏe của họ.
Các quốc gia “mới nổi” dường như hiểu được động lực kinh tế này và đang phải đương đầu với những thách thức. Đặc biệt, các nước đang phát triển từ khu vực Châu Phi cần phải nỗ lực hơn nữa để đối mặt với những thách thức về sức khỏe và kinh tế này, đặc biệt là khi đối mặt với sự hồi sinh và xuất hiện của các chủng vi sinh vật gây bệnh và ung thư kháng thuốc đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với tồn tại của con người [48]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), báo cáo rằng khoảng 70% đến 80% người dân trên toàn cầu dựa vào các nguồn thảo dược để điều trị bệnh [49] 7 Quy mô thị trường các sản phẩm làm đẹp từ thảo dược toàn cầu được định giá 78,5 tỷ đô la vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 5,2% từ năm 2020 đến năm 2027. Các sản phẩm thảo dược làm đẹp được cho là sẽ mở rộng thị trường trên toàn thế giới [50] Khi đánh giá vai trò của cây thuốc trong sự đóng góp phát triển kinh tế của bang Uttaranchal, Himalaya.
Chandra Prakash Kala (2015) đã nhận thấy chính phủ và chính quyền bang đang có chiến lược thúc đẩy hoạt động công nghiệp dựa trên cây thuốc, xác định tiềm năng có sẵn của 964 loài cây thuốc bản địa là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế của bang này [51]. Tiềm năng phát triển Từ việc phân tích nhu cầu thị trường và đánh giá qua số liệu ghi nhận được qua sự tiêu dùng dược phẩm trên toàn cầu, các chuyên gia đã đưa ra dự báo nhu cầu dược liệu cho thế giới rất cao và chưa được cung ứng đủ. Dự báo đến năm 2050, giá trị thương mại thảo dược thế giới đạt nghìn tỷ đô la, thị trường sẽ thiếu hụt nguồn cung ứng các loại thuốc thiết yếu. Châu Á, Châu Phi và Châu Âu dự kiến nhập khẩu khoảng 1 tỷ đô la từ cây thuốc và cây tinh dầu để phục vụ nhu cầu chữa bệnh và trị liệu.
Cũng theo dự báo, hơn một nửa dân số thế giới sẽ sống ở các quốc gia có mức tiêu thụ thuốc vượt quá 01 liều/người/ ngày, tổng cộng hàng năm lên đến 4,5 nghìn tỷ liều trong năm 2020, tăng 24% so với năm 2015 [56]. Mặc dù tỷ trọng cây thuốc chiếm phần nhỏ trong sản lượng nông nghiệp, nhưng giá trị lại cao nhất trong số các loại cây được buôn bán. Cây thuốc được xem như cây tiềm năng cao trong họat động sản xuất nông nghiệp, đóng góp cho nền kinh tế khu vực [57,58]. Các quốc gia Nam Á và Tây Á đã có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng trọt, thu hái và buôn bán cây thuốc, cây thơm từ nhiều thế kỉ trước [59,60].
Các nước Đông Nam Á có đa dạng sinh học cao, tri thức y học cổ truyền phong phú. Ngành công nghiệp thảo mộc của Malaysia đạt doanh thu 315 triệu đô la mỗi năm và được báo cáo là đang tăng trưởng ổn định với tốc độ 20%; Ngành công nghiệp thảo dược Indonesia đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây; Campuchia có khả năng cung cấp nguyên liệu thô thu được từ hơn 500 loại cây 8 thuốc; Thái Lan có 1400 loài làm thuốc và cây tinh dầu trong khoảng 10.000 loài thực vật. Có 248 cơ sở sản xuất ở Bangkok và 451 cơ sở ở nông thôn đã đóng góp vào việc sản xuất thuốc truyền thống ở Thái Lan trong năm 2000.