Nghiên Cứu Tài Nguyên Cây Thuốc và Biện Pháp Bảo Tồn Tại Khu Bảo Tồn Sao La, Tỉnh Thừa Thiên Huế

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc khu bảo tồn sao la tỉnh thừa thiên huế và đề xuất biện pháp bảo tồn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

128
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới

1.2. Lịch sử nghiên cứu và tình hình điều tra thống kê

1.3. Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế

1.4. Tiềm năng phát triển

1.5. Tình hình nghiên cứu bảo tồn, các mối đe dọa nguồn tài nguyên cây thuốc

1.6. Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam

1.7. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Thừa Thiên Huế và điều kiện tự nhiên xã hội Khu bảo tồn Sao La

1.8. Tổng quan nghiên cứu các chất có hoạt tính sinh học từ thực vật

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Địa điểm nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Sao La, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2. Tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc

3.3. Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc. Tiềm năng chữa các nhóm bệnh khác nhau của các loài cây thuốc

3.4. Đa dạng về nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm

3.5. Giá trị khoa học

3.6. Tình hình khai thác, sử dụng và nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào bản địa tại khu vực Khu bảo tồn Sao La

3.7. Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thực vật làm thuốc tiềm năng

3.8. Các giải pháp quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc ở Khu bảo tồn Sao La

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bảo Tồn và Phát Triển Bền Vững Tài Nguyên Cây Thuốc

Khu bảo tồn Sao La, tỉnh Thừa Thiên Huế, là một trong những khu vực đa dạng sinh học quan trọng của Việt Nam. Nơi đây không chỉ có giá trị về mặt sinh thái mà còn chứa đựng nhiều loài cây thuốc quý hiếm. Việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc tại khu vực này là cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học và phục vụ nhu cầu y tế của cộng đồng. Theo nghiên cứu, khu bảo tồn có khoảng 600 loài thực vật, trong đó nhiều loài đã được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam.

1.1. Giá trị sinh thái và văn hóa của Khu bảo tồn Sao La

Khu bảo tồn Sao La không chỉ là nơi bảo tồn đa dạng sinh học mà còn là nơi lưu giữ văn hóa của các dân tộc thiểu số. Các loài cây thuốc như Chè đắng, Bình vôi, và Thiên niên kiện được sử dụng trong y học cổ truyền, thể hiện sự kết nối giữa con người và thiên nhiên.

1.2. Tình hình nghiên cứu tài nguyên cây thuốc tại khu vực

Nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Sao La đã được thực hiện từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều loài chưa được khai thác và nghiên cứu đầy đủ. Việc này cần được thúc đẩy để bảo tồn và phát triển bền vững.

II. Thách thức trong Bảo Tồn Tài Nguyên Cây Thuốc tại Khu Bảo Tồn Sao La

Khu bảo tồn Sao La đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc. Sự khai thác quá mức, biến đổi khí hậu và sự phát triển đô thị hóa đang đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài cây thuốc quý. Theo báo cáo, nhiều loài đã bị suy giảm số lượng do khai thác không bền vững.

2.1. Nguy cơ từ khai thác không bền vững

Khai thác cây thuốc không bền vững đã dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên. Nhiều loài cây thuốc quý đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài cây thuốc. Thay đổi nhiệt độ và lượng mưa có thể làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của chúng.

III. Phương pháp Bảo Tồn và Phát Triển Bền Vững Tài Nguyên Cây Thuốc

Để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Sao La, cần áp dụng các phương pháp khoa học và thực tiễn. Việc xây dựng các chương trình giáo dục cộng đồng và khuyến khích người dân tham gia vào công tác bảo tồn là rất quan trọng.

3.1. Xây dựng chương trình giáo dục cộng đồng

Giáo dục cộng đồng về giá trị của cây thuốc và tầm quan trọng của việc bảo tồn là cần thiết. Các chương trình này có thể giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia bảo vệ tài nguyên.

3.2. Khuyến khích nghiên cứu và phát triển

Khuyến khích các nghiên cứu về cây thuốc và phát triển các sản phẩm từ cây thuốc có thể tạo ra giá trị kinh tế cho cộng đồng. Điều này không chỉ giúp bảo tồn mà còn tạo ra nguồn thu nhập bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn và Kết quả Nghiên cứu tại Khu Bảo Tồn Sao La

Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Sao La đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Việc xác định và phân loại các loài cây thuốc quý đã giúp nâng cao giá trị của khu vực này trong mắt cộng đồng và các nhà đầu tư.

4.1. Đánh giá tính đa dạng của cây thuốc

Đánh giá tính đa dạng của cây thuốc tại khu bảo tồn cho thấy sự phong phú về loài và giá trị sử dụng. Nhiều loài đã được ghi nhận có hoạt tính sinh học cao, có tiềm năng phát triển thành sản phẩm dược phẩm.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu hóa học

Các nghiên cứu hóa học đã chỉ ra rằng nhiều loài cây thuốc tại khu bảo tồn có chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học, mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm mới từ thiên nhiên.

V. Kết luận và Tương lai của Bảo Tồn Tài Nguyên Cây Thuốc

Bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc tại Khu bảo tồn Sao La là một nhiệm vụ cấp bách. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, cộng đồng và các nhà nghiên cứu để đảm bảo sự tồn tại của các loài cây thuốc quý. Tương lai của khu bảo tồn phụ thuộc vào những nỗ lực này.

5.1. Tầm quan trọng của sự hợp tác

Sự hợp tác giữa các bên liên quan là rất quan trọng trong việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc. Các chương trình hợp tác có thể giúp chia sẻ kiến thức và nguồn lực.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững cần được xây dựng dựa trên các nghiên cứu khoa học và thực tiễn. Điều này sẽ giúp bảo tồn tài nguyên cây thuốc và phát triển kinh tế địa phương.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tài liệu: 21 trang - Chương 2. Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 06 trang. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 56 trang.

Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu và tình hình điều tra thống kê Loài người đã sử dụng thực vật làm thuốc từ rất sớm và có nhiều bằng chứng cho điều này. Người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền [9]. Người Sumer từ Nagpur, Ấn Độ, lưu giữ 12 công thức pha chế thuốc, hơn 250 loại cây khác nhau được khắc lên phiến đất sét, khoảng 5000 năm trước [10,11], Người Ai Cập cổ đại ghi chép 800 bài thuốc và trên 700 vị thuốc trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây [9].

Cuốn “Ebers papyrus in Egypt”, được người Ai Cập cổ viết vào khoảng năm 1550 TCN, đã ghi lại hơn 780 toa thuốc và công thức sử dụng, 700 loại thảo dược và các chứng bệnh như quả lựu, cây thầu dầu, lô hội, tỏi, hành, vả, liễu, rau mùi, bách xù,. Theo dữ liệu từ Kinh thánh và sách thánh Do Thái Talmud, cây chứa tinh dầu được sử dụng trong nghi lễ và phương pháp điều trị bệnh [15] Ở Châu Á, đất nước Ấn Độ được xem là "cái nôi" của y học cổ với rất nhiều tài liệu ghi chép được truyền lại. Trong đó cuốn sách cổ nhất: "Rig-Veda" được viết vào khoảng 4.500 TCN, đã đề cập đến việc điều trị bệnh bằng thực vật, có nhiều loại cây gia vị được sử dụng như: Nhục đậu khấu, Tiêu, Đinh hương,. [16] Cuốn sách đã giới thiệu hệ thống y học cổ Ayurvedic vào khoảng 4.400TCN, tiếp đến các hệ thống như: Unani, Siddha và Tibetan dùng để chữa trị cho dân tộc này và các dân tộc khác.

Ở thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Sushruta đã viết "Sushruta Amhita", trong đó mô tả 700 cây thuốc, nhiều cây thuốc vẫn được sử dụng trong y học hiện đại [17]. Cùng với Ấn Độ, Trung Quốc ghi nhận sử dụng dược liệu từ rất sớm. Cuốn dược điển "Pen T' Sao"do Shen Nung khoảng 2500 năm TCN, đề cập 365 vị thuốc và cây thuốc, nhiều trong số chúng được sử dụng ngay cả ngày nay như: Đại hoàng, Long não, Khổ sâm vàng, Nhân sâm, vỏ Quế, Ma hoàng,. Cộng đồng dân tộc thiểu số Trung Quốc cũng đã biết sử dụng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc, trong đó, Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.

Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” thống kê hầu hết các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [21]. Gần đây Thomas S. Li ở Đài Loan, Trung 5 Quốc công bố hơn 1.000 loài cây thuốc, danh sách này sắp xếp theo bảng chữ cái Latin [22]. Trong tác phẩm này, ông đã nhấn mạnh tính năng quan trọng để con người trở nên quen thuộc với chất độc thực vật là cách tăng dần liều lượng sử dụng [25, 26] Vào năm 77 sau công nguyên (SCN), Dioscorides với tư cách là bác sĩ quân y và dược sĩ của quân đội Nero, đã nghiên cứu cây thuốc nơi ông đi qua cùng quân đội La Mã.

Tác phẩm “De Materia Medica” do ông viết cung cấp nhiều dữ liệu về cây thuốc chữa bệnh từ thời Trung cổ và thời kỳ Phục hưng [27, 28] Trong tổng số 944 loại thuốc được mô tả, có 657 loại có nguồn gốc thực vật, với các mô tả về hình thái, phân bố, cách thu hái, làm các chế phẩm thuốc và hiệu quả điều trị [29,30]. Pliny the Elder (23 -79 SCN) người đã đi khắp Đức và Tây Ban Nha, viết về khoảng 1000 cây thuốc trong cuốn sách “Historia naturalis”[31]. Các tác phẩm của hai ông đã tổng hợp tất cả kiến thức về cây thuốc thời bấy giờ. Thế kỷ 18, Linnaeus trong tác phẩm: "Species Plantarium" (1753) đã cung cấp một mô tả ngắn gọn và phân loại loài được mô tả cho đến lúc đó.

Ông đã đề ra phương pháp đặt tên loài được dùng cho đến ngày nay [32] Năm 1978, WHO chính thức khởi động một chương trình quốc tế nhằm thúc đẩy và phát triển các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong y học cổ truyền (WHO, 1978; Tsige Gebremariam và Kaleab Asres, 2001) [33,34]. Ðầu thế ỷ XX, Perry (1985) đã công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Ðông Nam Á để tổng hợp thành cuốn “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” trong chương trình nghiên cứu về thực vật nơi đây [35]. Cây thuốc bản địa và thực vật học dân tộc được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và thống kê, đây là những dẫn liệu khoa học quý cho các dân tộc khắp thế giới, đại diện như: điều tra dân tộc học của các bộ lạc Akha của Thái Lan [36], tại Massif của Monteseny, nằm ở phía đông bắc Catalonia (Bán đảo Iberia) từ năm 1993 đến năm 2000 [37], ở Mihalgazi thuộc tỉnh Eskisdehir ở Thổ Nhĩ Kỳ [38], cây thuốc trong khu vực Avsar (Kahramanmaras) và vùng phụ cận, Thổ Nhỉ Kì [39], cây thuốc tộc người Jah Hut (bán đảo Mã Lai ) [40]. Nghiên cứu cây thuốc cổ truyền dùng để điều trị bệnh sốt rét ở Ethiopia [41].

Điều tra dân tộc học về cây 6 thuốc tại hai quần đảo Madeira và Porto Santo thuộc Bồ Đào Nha. Trong số 1209 loài ghi nhận ở hai quần đảo này, có 259 loài chiếm 21,42% đã được sử dụng làm thuốc [42] Khi nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của một số tộc người bản xứ ở Ấn Độ: người bản xứ Kumaun vùng Himalaya, bộ tộc Alipurduar ở huyện Santal, Tây Bengal, ở Bắc Bengal. Các cộng đồng đã sử dụng và thu hái cây thuốc từ rừng và vườn nhà để chữa các nhóm bệnh và đặc biệt đã có ý thức bảo tồn cây thuốc tại vườn nhà [43,44,45] Theo ước lượng các nhà khoa học, có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới. Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Sri Lanka có khoảng 550-700 loài [9] 1.

Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế "Cây trồng phụ có giá trị cao" là cụm từ dùng để chỉ các loại thảo mộc, gia vị, dược liệu và cây tinh dầu, nói chung là những cây đóng góp nhỏ vào sản lượng nông nghiệp của một quốc gia (Sher và cs, 2014)[46]. Các loại dược phẩm có nguồn gốc từ thực vật có thể được bào chế bởi các ngành sản xuất thuốc. Thương mại quốc tế về cây thuốc và các sản phẩm của chúng ước tính đạt 60 tỷ đô la vào năm 2010, và đến năm 2050, dự kiến đạt 5 nghìn tỷ đô la [47]. Từ đánh giá này, rõ ràng là giá trị kinh tế ngày càng tăng của cây thuốc mà các nước đang phát triển cần khai thác để cải thiện hệ thống kinh tế và chăm sóc sức khỏe của họ.

Các quốc gia “mới nổi” dường như hiểu được động lực kinh tế này và đang phải đương đầu với những thách thức. Đặc biệt, các nước đang phát triển từ khu vực Châu Phi cần phải nỗ lực hơn nữa để đối mặt với những thách thức về sức khỏe và kinh tế này, đặc biệt là khi đối mặt với sự hồi sinh và xuất hiện của các chủng vi sinh vật gây bệnh và ung thư kháng thuốc đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với tồn tại của con người [48]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), báo cáo rằng khoảng 70% đến 80% người dân trên toàn cầu dựa vào các nguồn thảo dược để điều trị bệnh [49] 7 Quy mô thị trường các sản phẩm làm đẹp từ thảo dược toàn cầu được định giá 78,5 tỷ đô la vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 5,2% từ năm 2020 đến năm 2027. Các sản phẩm thảo dược làm đẹp được cho là sẽ mở rộng thị trường trên toàn thế giới [50] Khi đánh giá vai trò của cây thuốc trong sự đóng góp phát triển kinh tế của bang Uttaranchal, Himalaya.

Chandra Prakash Kala (2015) đã nhận thấy chính phủ và chính quyền bang đang có chiến lược thúc đẩy hoạt động công nghiệp dựa trên cây thuốc, xác định tiềm năng có sẵn của 964 loài cây thuốc bản địa là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế của bang này [51]. Tiềm năng phát triển Từ việc phân tích nhu cầu thị trường và đánh giá qua số liệu ghi nhận được qua sự tiêu dùng dược phẩm trên toàn cầu, các chuyên gia đã đưa ra dự báo nhu cầu dược liệu cho thế giới rất cao và chưa được cung ứng đủ. Dự báo đến năm 2050, giá trị thương mại thảo dược thế giới đạt nghìn tỷ đô la, thị trường sẽ thiếu hụt nguồn cung ứng các loại thuốc thiết yếu. Châu Á, Châu Phi và Châu Âu dự kiến nhập khẩu khoảng 1 tỷ đô la từ cây thuốc và cây tinh dầu để phục vụ nhu cầu chữa bệnh và trị liệu.

Cũng theo dự báo, hơn một nửa dân số thế giới sẽ sống ở các quốc gia có mức tiêu thụ thuốc vượt quá 01 liều/người/ ngày, tổng cộng hàng năm lên đến 4,5 nghìn tỷ liều trong năm 2020, tăng 24% so với năm 2015 [56]. Mặc dù tỷ trọng cây thuốc chiếm phần nhỏ trong sản lượng nông nghiệp, nhưng giá trị lại cao nhất trong số các loại cây được buôn bán. Cây thuốc được xem như cây tiềm năng cao trong họat động sản xuất nông nghiệp, đóng góp cho nền kinh tế khu vực [57,58]. Các quốc gia Nam Á và Tây Á đã có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng trọt, thu hái và buôn bán cây thuốc, cây thơm từ nhiều thế kỉ trước [59,60].

Các nước Đông Nam Á có đa dạng sinh học cao, tri thức y học cổ truyền phong phú. Ngành công nghiệp thảo mộc của Malaysia đạt doanh thu 315 triệu đô la mỗi năm và được báo cáo là đang tăng trưởng ổn định với tốc độ 20%; Ngành công nghiệp thảo dược Indonesia đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây; Campuchia có khả năng cung cấp nguyên liệu thô thu được từ hơn 500 loại cây 8 thuốc; Thái Lan có 1400 loài làm thuốc và cây tinh dầu trong khoảng 10.000 loài thực vật. Có 248 cơ sở sản xuất ở Bangkok và 451 cơ sở ở nông thôn đã đóng góp vào việc sản xuất thuốc truyền thống ở Thái Lan trong năm 2000.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ